Theo định hướng giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 của Bộ Công Thương, Việt Nam sẽ tập trung phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành quan trọng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước.

Thực trạng non yếu

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, Việt Nam bước đầu đã hình thành nên một ngành công nghiệp hỗ trợ, cung cấp một số phụ tùng cho sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển ngành sản xuất – chế tạo ô tô. Đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 100 ngàn lao động trực tiếp.

Tuy nhiên, đại diện Bộ Công Thương cũng thừa nhận một số tồn tại đang còn hiện hữu như: Mục tiêu đề ra đối với tỷ lệ nội địa hóa xe cá nhân đến 09 chỗ ngồ là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7-10%, trong đó Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Inova, thấp hơn mục tiêu đề ra.

Nguyên nhân là do đối với lĩnh vực sản xuất, lắp ráp xe chở người đến 9 chỗ ngồi, Việt Nam là nước đi sau trong khu vực (so với các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia).

Trong khi đó, trước khi đầu tư dự án lắp ráp tại Việt Nam, các Tập đoàn ô tô lớn đều đã đầu tư các dự án sản xuất ô tô con có qui mô lớn trong khu vực. Công suất các dự án sản xuất ô tô con thường được tính toán cho thị trường khu vực, chứ không tính riêng cho quốc gia đặt nhà máy sản xuất. Thị trường xe con có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các Tập đoàn toàn cầu.

Ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp ô tô đã hình thành, nhưng mới chỉ sản xuất được một số ít chủng loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, săm-lốp, sản phẩm nhựa… Chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư dây chuyền dập thân, vỏ xe.

Viet Nam tap trung nguon luc phat trien cong nghiep o to - Anh 1

Công nghiệp ô tô Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất 50.000 xe mỗi năm. (Ảnh Internet)

Về công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô: Do dung lượng thị trường nội địa nhỏ, chỉ ở mức độ 200-300 ngàn xe/năm với nhiều mẫu mã, số lượng doanh nghiệp sản xuất – lắp ráp lớn (56 doanh nghiệp), nên thị phần của từng thương hiệu lại càng bị phân nhỏ. Dung lượng nhỏ không đáp ứng được tiêu chí tính kinh tế theo quy mô trong sản xuất công nghiệp, cả trong việc lắp ráp xe, cũng như sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Hơn nữa, các nguyên vật liệu cơ bản như thép chế tạo, cao su, nhựa và chất dẻo phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tất cả các điều đó làm cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện ô tô ít có lợi thế cạnh tranh do giá thành sản xuất cao.

Ngoài nguyên nhân chủ quan, trình độ của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp lắp ráp chưa quan tâm đến công nghiệp hỗ trợ, chưa tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất.

Giấc mơ 50.000 xe/năm

Theo định hướng của Bộ Công Thương, đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Việt Nam sẽ hình thành doanh nghiệp qui mô lớn (đẫn dắt thị trường): Thu hút và tập trung các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp có Dự án đầu tư sản xuất các dòng xe ưu tiên có quy mô công suất trên 50.000 xe/năm và dự án sản xuất các bộ phận động cơ, hộp số, cụm truyền động.

Theo đó, đối với xe chở người đến 9 chỗ ngồi: tập trung vào phát triên các sản phẩm xe con phù hợp với người Việt Nam và xu hướng phát triển xe con của thế giới (xe thân thiện môi trường: eco car, hybrid…) gồm: Xe cá nhân, kích thước nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng, thân thiện với môi trường và giá cả phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam.

Đối với xe tải và xe khách: tập trung vào phát triển các chủng loại sản phẩm sản xuất trong nước có lợi thế và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, nông thôn; các loại xe chuyên dùng, gồm có: xe tải nhỏ đa dụng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn; xe khách tầm trung và tầm ngắn; xe chở bê tông, xi téc và đặc chủng an ninh – quốc phòng; xe nông dụng đa chức năng.

Về công nghiệp hỗ trợ: định hướng cho thời gian tới là tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp lớn nước ngoài trong việc sản xuất linh kiện và phụ tùng, trong đó tập trung vào các bộ phận quan trọng, hàm lượng công lượng công nghệ cao để phục vụ nhu cầu của thị trường trong nước, thay thế nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu.

Cụ thể tỷ lệ giá trị sản xuất chế tạo trong nước đối với sản xuất ô tô: đến năm 2020, xe đến 9 chỗ đạt 30 – 40%, từ 10 chỗ trở lên đạt 35 – 45%, xe tải đạt 30 – 40%, xe chuyên dụng đạt 25 – 35%; đến năm 2025, xe đến 9 chỗ đạt 40 – 45%, từ 10 chỗ trở lên đạt 50 – 60%, xe tải đạt 45 – 55%, xe chuyên dụng đạt 40 – 45%; đến năm 2035, xe đến 9 chỗ đạt 55 – 60%, từ 10 chỗ trở lên đạt 75 – 80%, xe tải đạt 70 – 75%, xe chuyên dụng đạt 60 – 70%.

Giang Phan