Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), hiện nay tình trạng truy xuất nguồn gốc thực phẩm đang gặp nhiều vướng mắc.

Thông tin cụ thể về vấn đề trên, Bộ NN&PTNT cho hay, sau 6 năm kể từ ngày được ban hành, hoạt động thực thi về truy xuất nguồn gốc (TXNG) sản phẩm, trong đó có sản phẩm chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ nhất, các quy định về TXNG chưa được lồng ghép trong quy định về quản lý ATTP. Việc TXNG thực hiện đối với sản phẩm đóng gói, ngành nông nghiệp còn gặp trở ngại trong việc kiểm tra hoạt động TXNG đối với các cơ sở nhỏ lẻ vì rất ít các cơ sở ghi chép dữ liệu.

Cụ thể, trước đó, trả lời báo giới về những khó khăn trên, Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận, trong những tháng đầu năm 2016, rau, quả, thịt, thủy sản là thực phẩm tươi sống nên phần lớn chưa có nhãn mác, "dấu hiệu" nhận diện và thông tin về nguồn gốc xuất xứ. Do vậy, khi phát hiện mẫu vi phạm việc truy xuất nguồn gốc luôn gặp khó khăn, khó xác định nguyên nhân để xử lý vi phạm.

Truy xuat nguon goc thuc pham van gap nhieu kho khan - Anh 1

Hiện nay việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm, đặc biệt là những sản phẩm chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Ảnh: ANTĐ

Nhận thấy việc TXNG các sản phẩm chăn nuôi là nhu cầu và đòi hỏi của người tiêu dùng, của khách hàng, các đối tác tham gia chuỗi sản phẩm chăn nuôi và các tổ chức cấp giấy chứng nhận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế , nhu cầu tiêu dùng, lòng tin về sản phẩm nông lâm sản giảm sút, đặc biệt là về chất lượng ATTP, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển NNNT đã đưa ra một số kiến nghị chính sách về TXNG đối với sản phẩm chăn nuôi như: Cần rà soát và xây dựng hướng dẫn để kết nối các quy định về quản lý chăn nuôi, thú y, ATTP với TXNG.

Các công cụ trong quản lý như thẻ tai, mã số lô động vật chăn nuôi, sổ ghi chép...cần có sự thống nhất trong hoạt động tổ chức thực hiện. Đồng thời việc TXNG cần được hoàn thiện theo hướng “được theo dõi trong suốt chu kỳ sản xuất, chế biến và kinh doanh sản phẩm” thay vì theo từng công đoạn như quy định hiện nay.

Ngoài ra, theo kiến nghị trên, cần phải xây dựng các quy định bắt buộc về các thông tin trong TXNG đối với sản phẩm khi đưa ra thị trường, trong đó các thông tin tối thiểu cần được cung cấp xuyên suốt chu kỳ sản phẩm như: tên cơ sở/trang trại chăn nuôi, tên cơ sở chế biến, giết mổ, đóng gói...

Đặc biệt, cần phải bổ sung các quy định cụ thể về TXNG nhằm phân biệt giữa các sản phẩm có và không có chứng nhận chất lượng (Vietgap, hữu cơ...) nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở xây dựng hệ thống TXNG.

Dựa trên thực tế về tổ chức chăn nuôi, Bộ NN&PTNT cũng yêu cầu từ người tiêu dùng hiện nay, cần xây dựng và triển khai chương trình hỗ trợ thử nghiệm xây dựng hệ thống TXNG theo chuỗi giá trị đối với hai sản phẩm lợn và gia cầm trên cơ sở khung truy xuất là xây dựng quy định và thiết lập mã số định danh quốc gia đối với cơ sở sản xuất, giết mổ và kinh doanh.

Theo đó, hệ thống mã số định danh được xây dựng chung theo tỉnh, có sự thống nhất về mã số cơ sở chăn nuôi, giết mổ và kinh doanh giữa 3 lĩnh vực: quản lý chăn nuôi (mã số trang trại), quản lý ATTP và quản lý thú y.

Một đề xuất mới nhất đó là xây dựng cơ sở dữ liệu trung tâm thông qua hệ thống GSM Modem, cho phép truy cập trực tuyến trên internet thông qua mã số sản phẩm hoặc hệ thống điện thoại thông minh (thông qua mã vạch). Cơ sở chăn nuôi, giết mổ và kinh doanh cập nhật thông tin qua điện thoại hoặc máy tính.

An Dương