Ông Đỗ Văn Sinh, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam nhấn mạnh: Ngành BHXH Việt Nam đang quyết liệt cải cách thủ tục hành chính (TTHC), thực hiện giao dịch điện tử để giảm chi phí, phiền hà, “hạ” số giờ giao dịch còn 45 giờ vào cuối năm…

Phan dau giam thu tuc, chi phi, thoi gian giao dich - Anh 1

Ông Đỗ Văn Sinh, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Ảnh: Internet

Hỗ trợ DN thực hiện giao dịch điện tử

Toàn quốc có 72,81 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, 12,2 triệu người tham gia BHXH, 10 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, hơn 3 triệu người hưởng chế độ hưu trí và trợ cấp BHXH hằng tháng. Để phục vụ người dân tốt hơn và phấn đấu đạt mục tiêu cải cách thủ tục hành chính bằng nhóm nước trung bình, nhóm nước ASEAN+4, ngành BHXH đề ra mục tiêu giảm số giờ giao dịch xuống còn 45 giờ vào cuối năm 2016 (hiện tại là 48,5 giờ).

Đánh giá ban đầu cho thấy, nếu thực hiện giao dịch điện tử, lượng thời gian người sử dụng lao động cần bỏ ra để thực hiện thủ tục BHXH sẽ giảm nhiều, nhất là các chi phí phát sinh cho các bên tham gia. Giao dịch điện tử còn được hỗ trợ nhiều chức năng tự động giúp giảm thiểu sai sót khi kê khai, xem được kết quả giao dịch ngay qua mạng, giảm phiền hà cho người lao động cũng như người sử dụng lao động….

Tuy nhiên, muốn giao dịch điện tử thành công, rất cần phải có sự phối hợp của các đối tác giao dịch. Hiện giao dịch điện tử với các đơn vị sử dụng lao động mới chỉ đạt 75%; còn 25% nữa rơi vào những doanh nghiệp (DN) nhỏ ít có giao dịch. Điều này, đòi hỏi Nhà nước phải có giải pháp hỗ trợ để làm sao toàn bộ 100% DN thực hiện giao dịch hoặc 12.777 cơ sở khám chữa bệnh cũng đều thực hiện giao dịch.

Cần mở rộng chữ ký số

Công việc này còn đòi hỏi các bộ, ngành liên quan phải phối hợp chặt chẽ để liên thông và đồng bộ hóa dữ liệu với ngành BHXH.

Ông Sinh phân tích: Ngành Thuế đang quản lý trên 500.000 DN, nhưng ngành BHXH chỉ quản lý trên 200.000 DN tham gia BHXH. Vừa qua BHXH Việt Nam phối hợp với cơ quan Thuế rà soát DN (thí điểm ở TP Hồ Chí Minh) thấy còn một số DN có nộp thuế nhưng lại không phải tham gia BHXH.

Một vấn đề khác trong giao dịch điện tử cần quan tâm là chữ ký số. Hiện nay, chữ ký số có 2 hình thức: Chữ ký số công cộng và chữ ký số chuyên dùng. Chữ ký số công cộng có thể dùng cho bất cứ đối tượng nào, kể cả cá nhân. Còn chữ ký số chuyên dùng theo quy định của Chính phủ và Thông tư 175 của Bộ Nội vụ trước đây buộc phải sử dụng cho các tổ chức trong hệ thống chính trị (cơ quan của Đảng, cơ quan hành chính Nhà nước). Chữ ký số chuyên dùng phải do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp. Trong năm qua, BHXH Việt Nam dù đã quyết liệt nhưng mới đề nghị Ban Cơ yếu cấp được hơn 1.000 chữ ký số loại này.

Theo ông Đỗ Văn Sinh, ngành BHXH đang thực hiện giao dịch với khoảng 350.000 đơn vị sử dụng lao động, trong đó có hơn 100.000 đơn vị thuộc hệ thống chính trị. Việc cấp hơn 100.000 chữ ký số chuyên dùng sẽ rất khó cả về kinh phí lẫn năng lực triển khai, do phải phụ thuộc vào Ban Cơ yếu Chính phủ. Vì vậy, ngoài mở rộng chữ ký số công cộng, cần phải xã hội hóa nguồn kinh phí triển khai; đồng thời, Chính phủ cũng nên có chính sách hỗ trợ đối với những DN quá khó khăn trong thực hiện chữ ký số.

“Toàn bộ quy trình TTHC, hạ tầng công nghệ thông tin của ngành BHXH đã rất sẵn sàng. Còn một vấn đề nữa là phải làm sao cập nhật được chính xác, đầy đủ dữ liệu sổ BHXH để giúp BHXH Việt Nam quản trị được hệ thống dữ liệu này; đồng thời để trả sổ BHXH cho người lao động tự quản lý”, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam nhấn mạnh.

Trong 2 năm 2014 - 2015, BHXH Việt Nam đã tái thiết kế quy trình nghiệp vụ của ngành trên 5 lĩnh vực (thu, sổ thẻ, chính sách BHXH, chính sách BHYT, tài chính kế toán); rà soát lại các TTHC và đã giảm được từ 263 TTHC xuống còn 33 TTHC. Trong đó, đã giảm được 76% thành phần hồ sơ so với trước lúc cải cách TTHC; giảm 89% chỉ tiêu kê khai và 89% trình tự thao tác các thủ tục… Kết quả này mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng DN và người dân. Tuy nhiên, để đồng bộ với các thủ tục đó, đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ thông tin để tiến tới tự động hóa trong xử lý và giải quyết các chế độ chính sách.

Trần Kiên