Không phải là một nhà khoa học thực thụ, nhưng nhà giáo về hưu Đỗ Văn Xuyền (SN 1937) vẫn dành nhiều thời gian, công sức với chữ Việt cổ. Ông thậm chí sẵn sàng đem cả sổ hưu đi thế chấp để vay tiền và hễ nghe tin ở đâu phát hiện, khai quật ra cổ vật có khắc chữ là ông lại vội vã lên đường. Cho đến nay, ông đã sưu tầm và tìm ra hơn 1 vạn chữ Việt cổ và tập hợp thành 5 công trình nghiên cứu theo từng thời kỳ lịch sử.

Ông Đỗ Văn Xuyền sinh ra và lớn lên ở Thái Bình, lập nghiệp ở Việt Trì từ những năm 60 của thế kỷ XX (nguyên là Hiệu trưởng trường cấp II KCN Việt Trì). Trong quá trình giảng dạy và quản lý giáo dục, ông đã nhiều lần chứng kiến học trò của mình vô tình đào lên những vật dụng như: Rìu, dao búa, bát đũa, tiền cổ… bằng đá. Những lúc ấy, ông không khỏi bâng khuâng, trăn trở về một “kho tàng” văn hóa của người Việt vô cùng phong phú, nhất là ở giai đoạn Hùng Vương đã bị thời gian vùi lấp và đang có nguy cơ mai một. Và rồi, trái tim mách bảo ông cần phải góp nhặt, lưu giữ những thứ văn tự cổ của người xưa. Khi phát hiện ra thứ văn tự lạ, ông lại mò mẫm đi tìm những tài liệu nghiên cứu ở trong và ngoài nước về các di tích khảo cổ ở vùng đất này nhằm đối chiếu, so sánh, xác định được niên đại của những vật dụng. Năm 1989, khi đến xóm Quế, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, ông thấy một ngôi miếu đổ nát mà người dân gọi là Thiên cổ miếu, cửa miếu có hai cây táu lớn có từ lâu đời. Điều đặc biệt ở chỗ, tuy có 2 cây nhưng lại hai màu khác biệt, một cây nở hoa màu vàng và một cây nở hoa màu bạc. Trong quá trình nghiên cứu, ông còn biết thêm nhiều thông tin về Thiên cổ miếu và biết được tin người dân đào được ở đây một thanh kiếm đồng, một cái bát đồng có ghi chữ lạ, trong tâm trí ông đã ấp ủ những dự định rằng sau này có điều kiện sẽ giải mã nó.

Nguoi no luc giai ma chu Viet co - Anh 1

Ông Xuyền luôn nặng tình với chữ Việt cổ. Ảnh: Đài Sơn

Cho đến nay, ông đã tìm thấy hàng vạn con chữ. Trong đó, đáng chú ý là bộ chữ 17 ký tự gọi là hỏa tự (giống ngọn lửa cháy) của Vương Duy Trinh viết trong “Thanh Hóa quan phong” in năm 1903, cho rằng đây là chữ Việt cổ còn sót lại ở Tây Bắc. Vương Duy Trinh viết: “Vì thập châu (vùng Tây Bắc) là nơi biên viễn (biên giới xa) nên dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học Hán tự”. Đặc biệt, ông Xuyền đã tìm thấy bộ chữ Thái thổ tự của Phạm Thận Duật phát hiện năm 1855 cũng ở vùng Tây Bắc và khẳng định sự ghi chép, suy luận đầy vô lý khi học giả này gọi đó là chữ của người Thái. Ông phân tích, chữ người Thái nhưng lại không ghi được những từ về gia đình, nhân luận của họ. Như vậy không phải là chữ Thái. Ông giải thích, dân tộc ta có nhiều đời bị đô hộ, chữ viết luôn bị xóa bỏ, dân ta đã lưu giữ truyền đời bằng những tín hiệu bí mật, ngụy trang. Và Phạm Thận Duật đã dùng cách nói khéo đó để gửi gắm, cất giấu tinh hoa của tổ tiên mình. Theo sách Thông giám cương mục của Chu Hi đời Tống nói: “Đời Đường Nghiêu thứ 5 (tức 2352 TCN) người Nam di Việt đến chầu, hiến con rùa lớn”. Sách Thông chí thời này nói tiếp: Lưng rùa rộng ba thước có chép chữ khoa đẩu (con nòng nọc), ghi chép việc từ khai thiên lập địa đến nay. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của ta cũng ghi rõ điều này. Mặt khác, nhà nghiên cứu Lê Trọng Khánh cũng nhắc đến chữ khoa đẩu thời tiền sử của dân tộc ta. Bên cạnh đó, ông còn căn cứ vào kết quả khai quật của nhà nghiên cứu người Pháp Cô-la-ni năm 1923 khi nghiên cứu về nền văn hóa Hòa Bình đã tìm được hai chiếc đĩa gốm nhỏ ở chân núi Lam Gan khắc hai chữ có hình dáng như chữ Sĩ, chữ Thượng của Trung Quốc nhưng lại có tuổi 8.000 năm TCN, khi chưa có chữ Hán.

Công việc đầu tiên ông làm là chứng minh bằng tấm bản đồ Việt Nam tự tay ông vẽ với những ký hiệu đánh dấu sơ đồ các ngôi đền thờ thầy giáo, học sinh và địa điểm trường lớp qua các thời Vua Hùng, An Dương Vương - Triệu Đà, Hai Bà Trưng. Tấm bản đồ đánh dấu cả những ký hiệu về dấu tích chữ Việt cổ còn sót mà ông đã tìm thấy trên bãi đá cổ, trên những hiện vật và tài liệu cũ. Tất cả hơn 60 địa điểm từ Hà Tĩnh trở ra miền Bắc được ông phác họa bằng bản đồ vẽ tay rất công phu và tỉ mỉ.

Hơn nửa thế kỷ qua trong hành trình đi tìm chữ cổ, ông đã đặt chân đến nhiều vùng đất, song điều ông tâm đắc nhất là trong một lần đến ngôi miếu trên địa bàn huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc ngày nay) thờ 4 người con của Lạc Long Quân, ông tìm thấy bản ngọc phả thời Trần Thái Tông, vào loại cổ nhất hiện nay. Ngọc phả viết: “Nghiêu thế, Việt thường thị hiến thiên tuế thần quy, bố hữu khoa đẩu.” (nghĩa là thời Vua Nghiêu, người Việt hiến rùa thần, trên lưng có chữ khoa đẩu) như tiếp thêm cho ông sức mạnh để tìm về với cội nguồn dân tộc. Để khẳng định rõ hơn về những chữ Việt cổ, Đỗ Văn Xuyền đã đi tìm cuốn từ điển Việt Bồ La xuất bản năm 1651 ở Rô-ma (Italya), theo lời tác giả cuốn sách: Người dạy tôi là một thiếu niên bản xứ trong 3 tuần đã đọc được các thanh và từ để suy đoán rằng thứ chữ được dạy đó chính là chữ Việt cổ. Thông qua dữ liệu ấy, ông đã lặn lội đi đến rất nhiều miền quê để ghi lại lời nói của người bản xứ rồi làm công việc thầm lặng liệt kê, đối chiếu so sánh, suy luận, lý giải bằng ô chữ cổ...

Năm 2005, một vinh dự lớn đã đến với ông, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương về làm việc tại Phú Thọ dành một buổi trao đổi với ông về những phát hiện chữ cổ của cha ông chúng ta. Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã động viên, gửi gắm nhiều hy vọng và cung cấp thêm tài liệu giúp ông có thêm cứ liệu khẳng định về chữ của người Việt cổ. Tại đây, Chủ tịch nước đã đề nghị các cấp chính quyền, các ngành liên quan tỉnh Phú Thọ hỗ trợ kinh phí cho công tác sưu tầm, nghiên cứu chữ cổ của ông. Hàng chục năm qua, ông Xuyền vẫn một mình cặm cụi đi tìm và khẳng định chữ Việt cổ cho dân tộc được giới khoa học và giới nghiên cứu Hán Nôm nước nhà ghi nhận và đánh giá cao. Do say mê nghiên cứu mà kinh phí hạn hẹp nên ông đã cắm cả sổ hưu ở ngân hàng để lấy tiền tiếp tục sưu tầm. Mong rằng, các cơ quan chức năng giúp đỡ một phần kinh phí để ông chuyên tâm nghiên cứu và chứng minh rõ nguồn gốc chữ Việt cổ có từ ngàn đời nay cho con cháu mai sau.

Đài Sơn