Với tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp thép Việt Nam sẽ ngày càng quyết liệt. Do đó, để tiếp tục tồn tại và phát triển cần phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh.

Đó là nhận định của Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam tại hội thảo “Ngành thép Việt Nam – Thăng trầm và triển vọng” do Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam (VietinBankSc), Sở giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) và Công ty Cổ phần Đầu tư thương mại SMC (SMC) cùng phối hợp tổ chức.

Loi di nao cho doanh nghiep nganh thep? - Anh 1

TS. Nguyễn Văn Sưa – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam

Tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Sưa cũng dẫn số liệu từ Hiệp hội thép Việt Nam dự báo về sản lượng thép tới năm 2020 là 10 triệu tấn gang, 18 triệu tấn phôi thép và 22 triệu tấn thành phẩm; tới năm 2025 là 18 triệu tấn gang, 25 triệu tấn phôi thép và 30 triệu tấn thành phẩm. Cho thấy dư địa tăng trưởng cho các doanh nghiệp ngành thép vẫn còn khá lớn.

Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng các các doanh nghiệp ngành thép cũng cần đặt trong bối cảnh chung của thị trường thép thế giới vốn vẫn còn đang "ế ẩm".

Sức ép cạnh tranh

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, hiện tượng dư thừa nguồn cung thép đang diễn ra trên thế giới. Công suất của cả thế giới lên đến 2 tỷ tấn. Nhưng trong năm 2015 chỉ sản xuất 1,6 tỷ tấn do nhu cầu sụt giảm.

Trung Quốc, quốc gia dẫn đầu về năng lực cạnh tranh ngành thép vẫn đang tạo ra nhiều khó khăn đối với các sản phẩm thép nội địa khi chi phí sản xuất của nước này ở mức thấp hơn so với các nước còn lại. Ngoài ra, một trong những lý do giúp thép Trung Quốc cạnh tranh mạnh về giá với các sản phẩm thép của quốc gia khác là nhờ vào chính sách thúc đẩy xuất khẩu thép của Trung Quốc. Cụ thể là hoàn thuế VAT cho xuất khẩu thép, nhất là đối với thép “hợp kim” chứa B, Cr.

Theo ước tính, sản lượng sản xuất trong nước năm 2016 đạt 8,25 triệu tấn thép dài, 3,5 triệu tấn CRC, 1,75 triệu tấn ống thép và 3,7 triệu tấn tôn mạ. Sản lượng này vẫn còn thấp hơn so với công suất thiết kế, tuy nhiên sản lượng thép nhập khẩu vẫn tăng rất mạnh trong những năm vừa qua đặc biệt là phôi thép và sản phẩm cuối cùng.

Năm 2014, Việt Nam nhập khẩu gần 600 ngàn tấn phôi thép nhưng năm 2015 nhập khẩu gần 2 triệu tấn. Chỉ đến khi Bộ Công Thương ban hành quyết định áp thuế tự vệ đối với các sản phẩm thép thì sản lượng nhập khẩu phôi thép mới giảm mạnh. Từ đó cho thấy ngành sản xuất thép trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thời gian bảo hộ bằng thuế tự vệ kết thúc.

Ông Sưa cho rằng, với lộ trình cắt giảm thuế quan sẽ gây sức ép rất lớn đến ngành thép trong nước, đặc biệt là hiệp định mậu dịch thương mại tự do (ACFTA) giữa Trung Quốc và ASEAN.

Lối đi nào cho doanh nghiệp ngành thép?

Nói về chuỗi giá trị ngành thép, ông Đặng Trần Hải Đăng, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu – CTCP Chứng khoán Công thương Việt Nam (VietinbankSc) cho biết hiện tại, sản xuất phôi slab, thép cuộn cán nóng (HRC) chính là điểm khuyết trong chuỗi giá trị mà Việt Nam chưa sản xuất được. Cùng với đó, năng lực sản xuất thép cơ khí chế tạo gần như chưa có. Chính vì vậy, trong năm 2015, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 14 triệu tấn thép thành phẩm, đứng thứ 6 trong danh sách các nước nhập siêu thép trên thế giới.

Theo nhận định của ông Đăng, với tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp sản xuất thép Việt Nam vẫn được dự báo ở mức 15% trong giai đoạn 5 năm tới thì cơ hội tăng trưởng của các doanh nghiệp thép Việt vẫn còn rất tốt nếu tìm được hướng đi phù hợp. Ông Đăng đề xuất 3 hướng đi cho doanh nghiệp thép trong nước như sau.

Thứ nhất, tối ưu hóa quy mô sản xuất với quy trình sản xuất khép kín. Theo ông Đăng, Hòa Phát là một ví dụ điển hình cho việc phát triển theo hướng đi này và trụ vững trong giai đoạn khó khăn của ngành thép thời gian qua.

Thứ 2, khai thác những khâu còn khuyết trong chuỗi giá trị ngành. Ông Đăng cho rằng doanh nghiệp nếu nghiên cứu đầu tư kỹ lưỡng, bài bản vào các sản phẩm Việt Nam chưa sản xuất được như phôi dẹt, thép cuộn cán nóng, hay các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như thép cơ khí chế tạo sẽ có tiềm năng phát triển rất lớn.

Thứ 3, đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu tốt và biên lợi nhuận cao. Đồng ý với quan điểm của ông Sưa, ông Đăng cho rằng hiện nay năng lực sản xuất của công nghiệp thép Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu trong nước về thép xây dựng, ống thép, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu. Do đó, việc khai thác thị trường xuất khẩu là rất cần thiết để mở rộng dư địa tăng trưởng của doanh nghiệp.

Riêng trường hợp của CTCP Đầu tư thương mại SMC, đại diện công ty này cho biết sẽ đầu tư mới 1-2 nhà máy gia công chế biến thép theo hướng tăng tỷ trọng thép dẹt và gia tăng sản lượng mặt hàng ống thép để cải thiện biên lợi nhuận.

Ngoài ra, sự biến động khó lường của giá thép nhập khẩu cũng tạo nên rủi ro lớn cho hoạt động của các doanh nghiệp nhập khẩu thép nguyên liệu. SMC cũng từng “nếm mùi” thua lỗ nặng khi giá thép sụt giảm mạnh trong năm 2015. Câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp sẽ làm gì để hạn chế những rủi ro đó có thể lặp lại trong tương lai ?

Ông Nguyễn Ngọc Anh, Chủ tịch CTCP Đầu tư thương mại SMC cho biết: “khoản thua lỗ trong năm 2015 của công ty ngoài nguyên nhân khách quan là giá thép giảm mạnh, có một phần chủ quan là do ban điều hành nhận định về thị trường sai dẫn đến thiệt hại. Khi giá xuống từ đầu năm và càng lúc càng giảm. Chúng tôi nhận định rằng việc mua thêm hàng giá thấp sẽ bình quân được giá mua nhưng càng mua hàng mới về thì càng lỗ. Mức giá mua về giảm từ 500 USD xuống còn 260 USD, tức là giảm đến gần 100%”.

Ông Ngọc Anh cũng cho rằng, đặc thù ngành kinh doanh thép có những thời điểm khi giá lên thì dù mình có “chảnh” mấy cũng có người mua, nhưng khi giá xuống thì bán rẻ mấy cũng không bán được. Đó là vấn đề mà ông Ngọc Anh cho rằng đó là chuyện không thể làm khác được trong ngành này.

“Vấn đề là chúng tôi đã rút ra bài học là không nên quá tham lam mà phải phân tích, dự báo tình hình thật kỹ để đưa ra các quyết định nhập hàng. Ngoài ra, SMC xác định con số tồn kho cho toàn hệ thống là 120.000 tấn thép các loại, đây là con số không nhiều nhưng cũng không phải là ít”, ông Anh cho biết về cách SMC đối phó với rủi ro biến động giá nguyên liệu đầu vào.