Nicolas Flamel trong “Harry Potter” là nhân vật có thật và nhiều sinh vật huyền bí trong tác phẩm của Rowling đến từ nhiều nơi hữu hình, trong đó có thế giới cổ đại.

'Giai ma' sinh vat huyen bi tren man anh - Anh 1

Quái điểu trong Fantastic beasts and where to find them

Thưởng thức Fantastic beasts and where to find them (đang chiếu rạp Việt với tên gọi Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng), người xem biết tìm các con vật nửa hư nửa thực ở đâu. Đó là trong chiếc vali của nhân vật do tài tử Anh Eddie Redmayne thủ vai. Chiếc vali xuất hiện năm 1926 ở New York, Mỹ.

Nhưng những con rồng, kỳ lân, sư tử đầu chim... trong vũ trụ Harry Potter của JK Rowling đến từ đâu?. Quái vật, sinh vật huyền thoại trong tác phẩm của Rowling bổ sung chiều sâu tâm lý và biểu tượng.

Rowling vừa là nhà phát minh vừa là chuyên viên văn thư lưu trữ các con vật kỳ ảo, biến vũ trụ của bà thành nơi vừa quen vừa lạ với các quái vật kinh điển (troll, nhân mã, người cá), hình tượng dân gian (người cây bowtruckle, yêu tinh erkling), sáng tạo riêng của bà (giám ngục dementor).

Nguồn gốc

Quái vật, sinh vật huyền bí trong truyện của Rowling có độ nổi tiếng khác nhau. Ví dụ, grindylow và boggart có nguồn gốc từ văn hóa dân gian Anh và Celtic. Grindylow sống ở vùng nước nông, đe dọa tóm trẻ con bằng cánh tay trông như cây sậy màu xanh lá. Grindylow có chung đặc điểm với nhiều loại thực vật thủy sinh - thường xuyên di động và có hình thức gây cảm giác bất an.

Điều này lý giải sự hình thành và phổ biến của các câu chuyện dân gian giúp phụ huynh cảnh báo con em mình tránh xa mối nguy hiểm. Yêu tinh nước độc ác trở thành biểu tượng của mối đe dọa đuối nước, nguy cơ sông hồ.

Nhưng phần lớn các quái vật, sinh vật được yêu thích nhất của Rowling đến từ thế giới cổ đại. Phượng hoàng Fawkes không chỉ là một sinh vật huyền thoại có khả năng tự tái sinh, nó còn là một sinh vật lịch sử.

Màu của phượng hoàng, đỏ và vàng, giống hệt màu của các con phượng hoàng mà nhà sử học Hy Lạp Herodotus đề cập trong tác phẩm “Lịch sử từ thế kỷ 5 trước công nguyên”. Herodotus thuật lại những chuyện ông được nghe trên đường đi đây đi đó, nhưng những người kể chuyện thường không trưng ra được bằng chứng.

Trong trường hợp phượng hoàng, Herodotus nghe kể rằng, phượng hoàng sống ở Ai Cập rồi thuật lại thông tin này cho độc giả. Nhà sử học La Mã Tacitus thuật lại một trường hợp nhìn thấy phượng hoàng, cũng ở Ai Cập, dưới thời hoàng đế Tiberius hồi thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

Các nguồn tin của Tacitus không thống nhất về tuổi thọ của phượng hoàng, nhưng nhìn chung, người ta tin rằng, loài chim này sống được 500 năm. Các nguồn tin của Tacitus đều tả giống nhau về mỏ và màu lông phượng hoàng.

'Giai ma' sinh vat huyen bi tren man anh - Anh 2

Peleus và Thetis đánh nhau trước mặt nhân mã Chiron. Đây là tranh vẽ xuất hiện trên một bình gốm trong bộ sưu tập nghệ thuật ở Paris

Điều thú vị là, cả Tacitus và Herodotus cho rằng, không phải phượng hoàng tái sinh từ ngọn lửa của chính mình mà là phượng hoàng non mang xác chim bố hoặc chim mẹ bay một quãng đường dài rồi chôn xác.

Một con vật trong Harry Potter đã trải qua nhiều thay đổi để trở thành sinh vật huyền thoại là chó nhiều đầu. Cerberus, con chó gác cổng vào âm phủ trong thần thoại Hy Lạp, có nhiều tài và nhiều đầu. Nhà thơ Hesiod cho rằng, loài chó này có tới 50 đầu. Sau này, các nhà văn Hy Lạp và La Mã thường viết rằng, chúng có 3 đầu.

Tuy nhiên, trên các bình hoa, người ta thường vẽ chó 2 đầu. Ở Viện Bảo tàng Louvre có một bình hoa vẽ chó Cerberus 2 đầu. Dù có bao nhiêu đầu thì Cerberus cũng có một điểm chung với Fluffy - con chó 3 đầu trong tập truyện Harry Potter đầu tiên: bị âm nhạc làm xao lãng. Rowling coi Fluffy là con chó canh cửa, nằm trên cửa sập dẫn Harry, Ron và Hermione đi tìm đá tạo vàng (đá phù thủy).

Huyền thoại toàn cầu

Đá tạo vàng có nguồn gốc cả huyền thoại và lịch sử. Bạn của giáo sư Dumbledore trong Harry Potter - người tạo ra viên đá, ông Nicolas Flamel, trong đời thực là một chuyên viên lưu giữ tài liệu sống ở Paris, Pháp hồi thế kỷ 14. Nhiều năm sau khi ông Flamel qua đời, người ta cho rằng, ông đã tìm ra bí quyết trường sinh.

Sau đó, các nhà văn viết rằng, ông là nhà giả kim đại tài, nhưng không có bằng chứng chứng tỏ điều này. Tuy nhiên, ở Paris ngày nay có một con phố mang tên ông (cũng như tên vợ ông - Pernelle). Ít ra đây cũng là một hình thức bất tử.

Tên loài rồng huyền thoại ở châu Á và châu Âu cũng bắt nguồn từ chữ Hy Lạp. Rồng trong tiếng Anh là dragon, trong tiếng Hy Lạp drakon. Tử xà basilisk sống trong Phòng chứa bí mật cũng có tên bắt nguồn từ chữ Hy Lạp, có nghĩa “tiểu vương”.

Trong tác phẩm của Rowling, loài rắn basilisk có khả năng tàn phá mọi thứ trên đường đi của nó thông qua độc lực kinh hồn. Tuy nhiên, Rowling không đưa vào truyện một điểm yếu chí mạng của basilisk. Trong cuốn “Lịch sử tự nhiên”, nhà tự nhiên học La Mã Gaius Plinius Secundus (còn gọi là Pliny Già) viết rằng, có thể dùng mùi của con chồn để tiêu diệt basilisk.

Có lẽ sinh vật kỳ dị nhất tại trường phù thủy Hogwarts là loài nhân mã sống trong rừng cấm. Chúng dường như là hậu duệ trực tiếp của giống nhân mã được cho là từng sống trên đỉnh Thessaly ở miền trung Hy Lạp.

Nhân mã của Rowling cũng thích sống trong nhà gỗ trong rừng, dù chúng có lối hành xử phóng túng mà thầy Firenze cao quý và bạn đồng hành đều tránh. Thầy Firenze đam mê chiêm tinh và giáo dục. Và thầy có mối liên quan tới nhân mã.

Chiron, một nhân mã nổi tiếng, là thầy dạy của Achilles, Theseus và nhiều anh hùng Hy Lạp khác, đồng thời là một chiêm tinh gia trứ danh. Trong bảo tàng khảo cổ ở Naples, Ý có một bức bích họa rất đẹp vẽ Chiron đang dạy Achilles chơi đàn lia.

'Giai ma' sinh vat huyen bi tren man anh - Anh 3

Một bức bích họa ở Ý vẽ Heracles và chó Cerberus 3 đầu

Phép ẩn dụ

Thú hình người có hai loài đặc trưng, nhân mã và nhân ngư, và là một phần không thể thiếu của văn hóa dân gian. Đôi lúc có sự trộn lẫn, lai tạp giữa các loài. Mã ưng hippogriff (thân ngựa có cánh, đầu đại bàng) là một loài tương đối mới, xuất hiện trong một bài thơ Ý ra đời đầu thế kỷ 16. Nhưng sự kết hợp của griffin (thân sư tử, đầu đại bàng) và ngựa được cho là xuất hiện sớm hơn nhiều.

Trong thơ của mình, Publius Vergilius Maro (tên thường gọi là Virgil), nhà thơ lớn của La Mã cổ đại, miêu tả một phong cảnh mà trong đó các nguyên tắc thông thường không tồn tại. Thay vào đó, griffin giao phối với lừa, với ngựa, hươu nai uống nước cạnh chó săn. Sự tồn tại của hippogriff được thể hiện là một hình thái của sự bất khả, chứ không phải bởi bản chất tưởng tượng.

Một điểm thú vị là xem xét các quái vật, quái thú mà Rowling không đề cập trong Harry Potter, chủ yếu là thần rừng nửa người nửa dê và tiên nữ rất phổ biến trong thần thoại Hy Lạp. Điều này khiến độc giả nghĩ tới một mục đích biểu tượng của các sinh vật huyền thoại trong Harry Potter. Thế giới của Harry hầu như không có bóng dáng sex, chỉ có chút hôn hít, không có sự phóng túng của thần rừng nửa người nửa dê.

Thậm chí cô gái có cái tên giống nữ thần Hy Lạp, Nymphadora Tonks, hầu như không có điểm gì khác giống họ, trừ khả năng thay đổi ngoại hình. Các sinh vật khác cũng có tính biểu tượng. Trong truyện của Rowling, yêu tinh sống trong nhà nhắc người đọc nhớ tới tình trạng nô lệ.

Tương tự, nhân mã và người khổng lồ chịu khổ dưới sự thống trị của bà Umbridge ở trường phù thủy Hogwarts, vì họ bị coi là kém con người một bậc, một dạng phân biệt chủng tộc.

'Giai ma' sinh vat huyen bi tren man anh - Anh 4

Phượng hoàng mà giáo sư Dumbledore nuôi trong văn phòng ở trường Hogwarts có nguồn gốc thần thoại

Sinh vật đáng sợ nhất trong thế giới của Harry Potter là giám ngục dementor do tác giả Rowling sáng tạo ra. Dementor có thể có vẻ bề ngoài giống như hồn ma và kị sĩ đen trong The Lord of the Rings, nhưng sức tàn phá về tâm lý và tình cảm mà chúng gây ra là riêng biệt.

Rowling đã liên kết chúng với kinh nghiệm trầm cảm của riêng bà để nhắc nhở độc giả rằng, những quái vật đen tối nhất mà họ đối mặt là những thứ ở trong chính tâm trí họ...

Đông Phong (tổng hợp)