Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu và làm gì để các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tham gia có hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong điều kiện hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tham gia nhiều FTA mới là vấn đề đang đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ.

Doanh nhan Viet voi chuoi cung ung - Anh 1

Chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng (Supply Chain) là hệ thống tổ chức, con người, hoạt động thông tin và nguồn lực liên quan tới chu chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung ứng đến khách hàng.

Nhiều tập đoàn lớn với thương hiệu toàn cầu lồng ghép các quy tắc ứng xử và hướng dẫn vào văn hóa công ty và hệ thống quản trị doanh nghiệp, đề ra các yêu cầu cho các nhà cung ứng (nhà máy, nông trại, dịch vụ…) thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Chuỗi hoạt động cung ứng (Supply Chain Operations - SCOR) của công ty tư vấn PRTM (hiện là một bộ phận của Pricewaterhouse Coopers LLP - PWC) đã được Hội đồng chuỗi cung ứng (Supply Chain Council - SCC) công nhận. SCOR trở thành công cụ tiêu chuẩn cho quản trị chuỗi cung ứng trong công nghiệp, đo lường toàn bộ hiệu suất chuỗi cung ứng, là mô hình tham chiếu quá trình quản trị chuỗi cung ứng.

Trong lĩnh vực y tế cộng đồng ở các nước đang phát triển, John Snow Inc đã phát triển khung JSI để quản trị chuỗi cung ứng, hình thành từ lĩnh vực thương mại được thực hiện tốt nhất để giải quyết các vấn đề trong chuỗi cung ứng y tế cộng đồng.

Trong những năm gần đây để ứng phó có hiệu quả với nguy cơ hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất tăng đã xuất hiện thuật ngữ “nền kinh tế xanh” (Green Economie), từ đó cũng ra đời “chuỗi cung ứng xanh” (Green Supply Chain).

Theo đó, từ thiết kế sản phẩm đến xây dựng quy trình sản xuất và quản lý logistics, chuỗi cung ứng nếu chỉ cố gắng giảm thiểu tác động đến môi trường thì chưa đủ để theo đuổi chiến lược “chuỗi cung ứng xanh”. Trong khi mục tiêu rộng lớn là giảm thiểu khí CO2 thì lợi ích thực sự của doanh nghiệp được đo lường thông qua việc sử dụng tối ưu tài sàn công ty, sản xuất chất thải ít hơn, thời gian tiếp cận thị trường nhanh hơn, luôn đổi mới sản phẩm và tăng lợi nhuận.

Theo Hội đồng chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (The Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP) thì quản trị chuỗi cung ứng bao gồm lập kế hoạch và quản trị liên quan đến nguồn cung ứng, bỏ thầu, chuyển đổi và quản lý hậu cần (logistics management), đòi hỏi sự phối hợp, liên kết với các kênh đối tác là bên cung cấp, bên trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng. Các nhà cung cấp đầu tiên là cung cấp sản phẩm, dịch vụ đã tạo thêm giá trị cho khách hàng và các bên liên quan.

Quản trị chuỗi cung ứng là chức năng tích hợp kết nối các chức năng kinh doanh chính và các quy trình kinh doanh trong công ty thành một mô hình kinh doanh gắn kết và hiệu suất cao, bao gồm thiết kế và chế tạo sản phẩm, quản lý hậu cần, marketing và bán hàng, tài chính và thông tin.

Việc kết hợp SCM thành công dẫn đến một kiểu cạnh tranh mới trên thị trường quốc tế, nơi mà sự cạnh tranh không phải giữa công ty với công ty, mà là giữa chuỗi cung ứng với chuỗi cung ứng. Trong các nghiên cứu gần đây, khả năng phục hồi hay còn được gọi là năng lực của chuỗi cung ứng đối phó với sự thay đổi, được xem là giai đoạn tiếp theo của sự cải tiến trong cấu trúc của nghiệp truyền thống để thích ứng với thị trường ảo dựa trên kỷ thuật số, lấy khách hàng làm trung tâm, cho phép con người có thể làm việc mọi lúc và mọi nơi.

Nhận dạng DNVVN trong chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng toàn cầu không còn xa lạ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cách đây 30 năm Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 180 nước và thu hút vốn đầu tư trên 100 quốc gia.

Một số tư liệu dưới đây thể hiện sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu:

- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ hạng 6 năm 2000 đã đứng đầu ASEAN vào năm 2014 với 29,4 tỷ USD, chiếm 22%, trong khi Malaysia 21,5%, Thái Lan 19,8%, Indonesia 14,7%, Singapore 12,5%, các nước khác 9,5%.

- Với gần 30 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may năm 2016, Việt Nam chiếm 4% kim ngạch dêt may thế giới, đứng hàng đầu về năng suất lao động của những nước xuất khẩu mặt hàng này (nhận định của Hiệp hội Dệt may).

- Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất một số mặt hàng công nghiệp có giá trị cao như điện thoại di động, smarphone, máy tính bảng.

- Việt Nam đứng trong tốp đầu thế giới về xuất khẩu một số sản phẩm nông nghiệp như hồ tiêu, cà phê, gạo, thủy sản. 8 tháng của năm 2016, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt hơn 1,5 tỷ USD, dự báo cả năm là 2,6 tỷ USD, vượt quá kim ngạch xuất khẩu gạo; nhiều loại quả của Việt Nam như nhãn, vải, thanh long đã được bản tại siêu thị Mỹ, Australia và nhiều nước khác.

Tuy vậy, một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện chỉ có 21% DNNVV tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong khi ở Thái Lan trên 30% và ở Malaysia là 46%; do vậy DNVVN ít được hưởng lợi từ hiệu ứng lan tỏa của doanh nghiệp FDI thông qua chuyển giao công nghệ, kiến thức và nâng cao năng suất.

Trong 25 năm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam mà đại bộ phận là DNVVN có những tiến bộ lớn về cả số lượng và cơ cấu doanh nghiệp, về doanh thu, kim ngạch xuất khẩu và năng lực cạnh tranh, tuy vậy những nhược điểm chính là:

- Số lượng doanh nghiệp mặc dù tăng lên rất nhanh nhưng vẩn còn ít so với yêu cầu và tiềm năng của một nước có trên 90 triệu dân.

- Quy mô nhỏ, chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa còn ít, chưa có nhiều tập đoàn công nghệ và dịch vụ hiện đại, đạt đến trình độ của các nước phát triển trong khu vực.

- Cơ cấu doanh nghiệp còn chưa hợp lý, trong từng ngành như dệt may, da giày chưa có cơ cấu đồng bộ để tạo ra giá trị gia tăng cao.

- Doanh nghiệp FDI thống trị nhiều chuỗi cung ứng sản phẩm, doanh nghiệp Việt Nam tham gia chủ yếu vào các khâu có giá trị gia tăng thấp.

- Chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, chất lượng sản phẩm chưa thay đổi để đáp ứng được nhu cầu của những thị trường chính.

- Chưa đầu tư đúng mức vào đổi mới công nghệ, thiết kế sản phẩm để có nhiều mẫu mã mới với chi phí hợp lý; chưa tạo ra được thương hiệu Việt Nam nên chủ yếu vẩn là gia công, đặt hàng nên đưa lại lợi nhuận không nhiều.Việt Nam.

Việt Nam đang đứng ở đáy của chuỗi cung ứng toàn cầu và đã đứng yên tại đó gần ¼ thế kỷ rồi!

Định hướng và giải pháp

Năm 2016, Việt Nam có bước nhảy vọt về hội nhập quốc tế với việc hình thành Cộng đồng ASEAN trong đó có Cộng đồng kinh tế (AEC), ký kết nhiều FTA thế hệ mới, do đó doanh nghiệp nước ta có cơ hội để tham gia sâu thêm vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Vấn đề nằm ở chỗ doanh nghiệp Việt Nam có thể dần vươn lên những khâu có giá trị gia tăng cao và làm gì để đạt được mục tiêu đó?

Doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Câu chuyện Samsung là điển hình về việc tham gia chuỗi cung ứng của một tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghiệp điện tử.

Từ tháng 9/2015 đến giữa năm 2016, Samsung đã triển khai chương trình tăng cường năng lực cho các nhà cung ứng Việt Nam, thông qua việc cử chuyên gia từ Hàn Quốc sang trực tiếp hỗ trợ cho 9 công ty Việt Nam trong ba tháng. Chuyên gia Hàn Quốc hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện các tiêu chuẩn trong việc cung ứng linh kiện, phụ kiện cho nhà máy của Samsung tại Việt Nam. Nhờ sự hợp tác giữa Samsung với doanh nghiệp Việt Nam nên đến tháng 8/2016 Samsung đã có khoảng 200 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp Việt Nam, một sự tăng trưởng đột biến từ 10 doanh nghiệp vào cuối năm 2014.

Từ kinh nghiệm hợp tác thành công giữa DNVN với tập đoàn Samsung có thể khẳng định rằng, DNVN có đủ điều kiện và năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu nếu 1) tự tin và chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội để thiết lập quan hệ hợp tác tin cậy với TNCs đang kinh doanh tại Việt Nam; 2) coi đổi mới, sáng tạo là định hướng lớn để đầu tư vào công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực trình độ cao theo lộ trình thích hợp; 3) doanh nghiệp FDI kết nối với DNVN, hỗ trợ thiết thực về chuyên gia, giải pháp công nghệ, quản trị doanh nghiệp để nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, trên cơ sở dó ngày càng có nhiều DNVN tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao..

Hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm Việt Nam

Câu chuyện Vingroup là giữa tập đoàn kinh tế trong nước với DNVVN hình thành chuỗi cung ứng nông nghiệp.

Vingroup là một tập đoàn kinh tế hàng đầu của Việt Nam, kinh doanh đa ngành, 2 năm gần đây phát triển mạng lưới với hàng trăm siêu thị trên cả nước và đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao tại nhiều địa phương. Hiện nay, Vingroup đã ký hợp đồng với 250 nhà cung cấp và hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp (kiểu mới) để hợp tác áp dụng công nghệ mới, công nghệ sạch, hướng dẫn nông dân canh tác, thu hoạch và tạo ra chuỗi cung ứng với chi phí thấp, thời gian rút ngắn từ nơi sản xuất đến siêu thị, do vậy người sản xuất, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, người tiêu dùng và Vingroup đều được hưởng lợi

Câu chuyện Vingroup hình thành hệ thống phân phối, liên kết với nhà sản xuất, nhà phân phối là mô hình để doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong từng ngành hàng trên tinh thần hợp tác, liên kết, tự chủ phát triển mạng lưới, hình thành chuỗi cung ứng của Việt Nam nhằm khai thác và tận dụng cơ hội mới của thị trường trong nước và thị trường thế giới.

Hình thành chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam

Vinamilk, True Milk, Viettel đang thực hiện có hiệu quả chuỗi cung ứng toàn cầu ở một nhiều nước. Sau 40 năm kể từ ngày thành lập Vinamilk là tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu Việt Nam, có 18 năm kinh nghiệm xuất khẩu ra thị trường thế giới, hiện đã có mặt tại hơn 40 quốc gia như Mỹ, châu Âu, châu Phi, New Zealand, Myanmar và Thái Lan.

Hiện nay, Vinamilk có 10 nông trại chăn nuôi bò và 13 nhà máy trên cả nước; nhà máy sữa tại tỉnh Bình Dương là một trong hai siêu nhà máy của Vinamilk có năng lực sản xuất 800 triệu lít sữa/năm và ba nhà máy ở nước ngoài. Từ 2011-2015 năng suất lao động tăng bình quân 10,19%/năm và giá trị gia tăng 14,5%/năm, đạt 1,9 tỷ đồng (89 nghìn USD)/người/năm. Vinamilk dự kiến năm 2017 đạt doanh thu 3 tỷ USD. Với thương hiệu quốc tế, khi tiến hành cổ phần hóa Vinamilk sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư tiềm năng.

Tại Việt Nam, nếu như Vinamilk là kẻ thống trị thị trường sữa thì kẻ đến sau là TH True Milk phải tìm hướng đi mới để hấp dẫn người tiêu dùng, đó là “sữa sạch”. Với một chương trình quảng bá truyền thông nhấn mạnh đến yếu tố “sữa sạch”, TH True Milk đã phần nào tạo được khác biệt với những nhãn hàng sữa khác trên thị trường.

Trong khi đó, so với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) thì Viettel là ”lính mới” trên thị trường viễn thông; nhưng nhờ chiến lược phát triển đúng đắn, Viettel đã vượt qua VNPT cả về doanh số, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước. Viettel hiện đã đầu tư tại 40 nước. Theo thống kê của GSMA Intelligence, đến giữa tháng 9/2016 Viettel nằm trong số 30 tập đoàn viễn thông có số lượng khách hàng nhiều nhất thế giới, đạt 26 triệu (so với 10 triệu khách hàng vào năm 2013).

Từ những điển hình trên đây đã cho thấy năng lực của nhiều tập đoàn kinh tế Việt Nam đủ sức hình thành chuỗi cung ứng toàn cầu nhiều loại sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Vấn đề đặt ra cần được quan tâm xử lý là kết nối theo chuỗi cung ứng của các tập đoàn này với DNVVN Việt Nam trên thị trường thế giới, như TNCs của các nước khi đầu tư tại nước ta đã kéo theo nhiều nhà cung cấp và nhà phân phối của nước họ vào nước ta. Để thực hiện được mục tiêu đó các tập đoàn cần làm đầu tàu trong quá trình hợp tác trong từng chuỗi cung ứng, DNVVN chủ động và trên tinh thần hợp tác tin cậy, cùng có lợi tham gia vào một số khâu của chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là định hướng quan trọng gắn với xuất khẩu lao động để mang lại giá trị gia tăng cao, thay thế dần phương thức xuất khẩu lao động hiện hành có nhiều nhược điểm cần khắc phục.

Hiệp hội ngành hàng với việc hình thành chuỗi cung ứng

Hiệp hội dệt may cho rằng, động lực để liên kết chuỗi cung ứng ngành dệt may hiện nay gồm hoa hồng, giảm giá và thu mua lại, môi trường bình đẳng theo định hướng thay đổi phương thức thức chủ yếu là gia công sang tham gia chuỗi cung ứng từ khâu thiết kế mẫu mã, sản xuất với tỷ trọng ngày càng tăng nguyên liệu, phụ liệu, sản xuất hàng may mặc, dịch vụ hậu cần và bán hàng để thu được giá trị gia tăng nhiều hơn.

Để đáp ứng yêu cầu của TPP và các FTA mới, Hiệp hội Dệt may chủ động tổ chức quá trình phân công và hợp tác theo chuỗi giữa các doanh nghiệp từ thiết ké sản phẩm, dệt, nhuộm đến may mặc nhằm đảm bảo quy tắc xuất xứ cũng như tính cạnh tranh của chuỗi cung ứng hàng dệt may Việt Nam.

Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chú trọng xây dựng, quảng bá và nâng cao hình ảnh thương hiệu để phục vụ tiêu dùng trong nước và tiến tới xuất khẩu ra thị trường ngoài, như cách mà Công ty An Phước đã mua thương hiệu Pierre Cardin đồng thời xây dựng thương hiệu An Phước để phục vụ người tiêu dùng Việt Nam với mức giá bằng một nửa so với sản phẩm mang thương hiệu Pierre Cardin.

Hoạt động của hiệp hội ngành hàng hướng vào việc hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm để khắc phục nhược điểm của từng loại sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu, phấn đấu để nước ta có nhiều thương hiệu mạnh; đó chính là kinh nghiệm được rút ra từ ngành dệt may Việt Nam.

Nhà nước với việc hình thành chuỗi cung ứng

Trong những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, liên kết theo chuỗi trong từng ngành hàng, thành lập một số quỹ hỗ trợ doanh nghiệp về khoa học và công nghệ, về bảo lãnh tín dụng, về phát triển kinh doanh, giảm thuế cho DNVVN, tổ chức các trung tâm hỗ trợ DNVVN, các vườn ươm công nghệ.

Đó là một nguyên nhân quan trọng đối với sự phát triển nhanh chóng số lượng doanh nghiệp và đóng góp của DNTN vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian vừa qua.

Hiện nay vấn đề cơ bản không phải là ban hành thêm chính sách mới mà là 1) hoàn thiện chính sách đã ban hành để bảo đảm tính hệ thống và khả thi; 2) thực thi chính sách có hiệu quả hơn để DNVVN được thụ hưởng nhiều hơn.

Viện nghiên cứu Mitsubishi hợp tác với Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TƯ đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Enchancement of Vietnamese Supporting Industries”, kiến nghị về việc ứng dụng mô hình rất thành công của Nhật Bản để hổ trợ cho DNVVN trong quá trình phát triển nhằm tham gia ngày càng có hiệu quả hơn chuỗi cung ứng sản phẩm.

Hiện nay mỗi tỉnh, thành phố có hai trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp: trung tâm khuyến công thuộc Sở Công Thương và Trung tâm hỗ trợ DNVVN thuộc Sở Kế hoạch & Đầu tư. Theo khảo sát của đề tài này thì các trung tâm đó hoạt động kém hiệu quả do hai nguyên nhân: một là không có đủ nguồn lực về tài chính, máy móc, thiết bị, chuyên gia tư vấn và hai là DNTN nhất là DNVVN chưa tiếp cận hoạt động của các trung tâm đó.

Đề tài kiến nghị: sát nhập các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp tại tỉnh, thành phố để thành lập Trung tâm công nghệ công cộng của địa phương (Local Public Technology Center- LPTC) có chức năng 1) theo định hướng của chính quyền tỉnh, thành phố tiến hành R&D để phục vụ cho công nghiệp hóa từng địa phương; 2) hỗ trợ về công nghệ và tài chính cho DNVVN và 3) hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, khai khoáng.

LPTC được đầu tư đầy đủ chuyên gia giỏi và công nghệ, tài chính, quản trị doanh nghiệp, trang bị công nghệ và thiết bị hiện đại, được ngân sách địa phương đài thọ, cũng có thể huy động vốn từ các nguồn tài trợ trong và ngoài nước, có cơ chế tự chủ tài chính.

Nhật Bản hiện có 600 LPTC, mỗi trung tâm có khoảng 100 chuyên gia, cán bộ, nhân viên, trong đó có ba trung tâm lớn với trên 300 người mỗi trung tâm. Có thể coi đây là mô hình rất đáng được nghiên cứu để ứng dụng vào nước ta. Tuy vậy, trong điều kiện thực tế Việt Nam thì nên tổ chức LPTC ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. HCM vì ở đó tập trung hơn 60% DNTN cả nước, có tiềm lực mạnh về tài chính, chuyên gia công nghệ, kinh tế, pháp lý. Sau một vài năm nếu mô hình này thành công thì sẽ nhân rộng ra các địa phương khác.

Theo Tạp chí Nhà Đầu tư

Giáo sư TSKH Nguyễn Mại