QĐND - Tôi là con gái nhà quê ra thành phố đã lâu. Mùi của phố phường đã ngấm đến nỗi tôi tưởng mình được sinh ra và lớn lên ở nơi này. Thế nhưng cuộc đời vẫn thường dành cho người ta những khoảng lặng để bất chợt nhận ra mình không phải là mình.

Tôi, vào khoảnh khắc của sự trải nghiệm kỳ lạ ấy, may mắn tìm ra có một dấu lặng vẫn âm ỉ sống. Để rồi, chỉ đợi một tiếng rung ngân, một giọt nắng hay trong veo chấm sương mai chạm tới là cả khoảng trời lưu dấu hồn quê lại tha thiết gọi. Tôi lang thang theo dấu tiếng chim hiếm hoi cất lên khi âm thanh nhộn nhịp, náo động của ngày mới còn được cất sâu sau tấm màn đêm lúc bình minh chưa thức giấc. Chỉ thoáng nhìn thấy bụi cỏ dại còn sót lại ven đường, lòng tôi cũng se lại khi nhớ những bước chân trần trên cánh đồng thơ ấu. Có lúc, tôi bị thôi miên bởi hương bồ kết quện với mùi sả thơm và hương nhu lẩn sau mái tóc của ai đó qua đường. Tôi cứ mường tượng và hình dung, đằng sau mái tóc thơm bồ kết ấy là một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, thuần khiết, dịu dàng. Ai hay, nhiều lắm những khi tôi phải loay hoay tìm một góc khuất giấu mảnh hồn quê để thấy mình không lạc bước giữa phố phường. Mùa nối mùa đi qua và mảnh hồn quê trong ngăn trái tim tôi có lúc khép lại dần. Cho đến một ngày tôi lạc bước đứng trước cổng làng Thụy Khuê (Hà Nội), bất chợt cả dòng ký ức như con sông đang mùa nước cuồn cuộn chảy về… Làng tôi, một làng nhỏ vùng ven sông Hồng mà theo lời của ngoại, chỉ toàn nhà nghèo, chẳng có ai làm quan hiển đạt, nhưng cả làng vẫn góp công, góp của dựng cái cổng đàng hoàng cốt sao không thua kém làng bên. Ngày ngày lũ trẻ tụ tập chơi đủ trò từ nhảy dây, đánh đáo, ô ăn quan đến trốn tìm rồi chiến tranh bùng nổ. Trò chơi ở cổng làng đôi khi còn chở che những đứa trẻ nghèo đợi mẹ về sau mỗi buổi chợ phiên gánh rau, mớ củi đã vơi, thay vào đó là mẻ ngô, củ sắn qua bữa trong những ngày giáp hạt. Chiều chiều, những người đánh dậm trở về mang mớ tôm, mớ cá, rổ ốc đem ra cổng làng bán. Cái khoảng không gian nhỏ ấy lúc nào cũng rôm rả tiếng trò chuyện, chào mời. Bước qua cổng làng, con đường gạch Bát Tràng xây nghiêng là trục chính dẫn tới các ngõ nhỏ bằng đường đất-lối đi tới những ngôi nhà mái lá của chúng tôi. Nhiều năm sau đó tôi vẫn nhớ như in ngày tôi mang chiếc bánh giòn tan có hình số tám, chạy từ đầu làng đến cuối làng chia cho mỗi bạn một mẩu bé tí teo rồi nhìn nhau hấp háy: “Bánh bố tao mua từ Hà Nội về đấy, ngon không?”. Mãi sau này tôi và lũ nhóc mới biết đó là bánh quẩy. Nhớ về quê, tôi lại tìm đến làng cổ Thụy Khuê xưa mà bây giờ đã thay tên thành phố. Trong tiềm thức của nhiều người, Hà Nội xưa vẫn giống như cái “làng” lớn được tạo thành bởi rất nhiều cái làng nhỏ. Và, Thụy Khuê, nhắc đến, trong nếp cũ, người ta lại nghĩ ngay tới cả một vùng Kẻ Bưởi. Nơi ấy có nghề dệt vải và nghề nấu rượu với hương sen nổi tiếng. Rượu ngon đến mức đã tạc lại trong nhân gian bóng dáng vị phật say kỳ lạ chùa Thụy qua thơ vịnh bất hủ của Trạng Quỳnh: Ông đứng làm chi đứng mãi đây/Chập chờn như tỉnh lại như say/Vãi nào đã chuốc cho ông rượu/Còn rượu cho vay một nậu đầy... Vậy đó, dù thời gian từng thò bàn tay lấy dần đi những thiết chế cùng những dấu tích xưa của đất và người nhưng may thay, cổng làng, như một minh chứng trường tồn của nếp văn hóa xưa thì vẫn trang nghiêm đứng đó. Và dẫu tên làng đã thay bằng tên phố, thì trong sâu thẳm tiềm thức của mỗi người khi cúi mặt đứng trước cổng làng vẫn vẹn nguyên sự thành kính với dấu cũ nếp xưa. Thu Hà