Một nghiên cứu của Tổ chức TRAFFIC đã chỉ ra rằng tại Việt Nam, hoạt động buôn bán trái phép gấu còn sống cũng như các bộ phận và dẫn xuất của chúng vẫn diễn ra mạnh mẽ và chỉ sụt giảm đôi chút sau lệnh cấm buôn bán các sản phẩm này vào năm 2006.

Báo cáo có tựa đề “Đánh giá tình hình buôn bán mật gấu và túi mật gấu tại Việt Nam” được công bố tại một sự kiện bên lề Hội nghị Hà Nội về Chống buôn bán trái pháp luật các loài động vật, thực vật hoang dã. Báo cáo tổng hợp số liệu từ các khảo sát được tiến hành tại sáu thành phố dọc Việt Nam vào năm 2012 và 2016, tiếp nối một khảo sát trước đó của TRAFFIC tại 13 quốc gia và vùng lãnh thổ ở Châu Á vào năm 2010 - 2011.

Trong những năm 1990, các trang trại gấu được mở ra ở khắp Việt Nam nhằm giải quyết nhu cầu đang tăng của người tiêu dùng. Vào năm 2005, việc chiết xuất mật gấu chính thức bị coi là vi phạm pháp luật. Tại thời điểm đó, vẫn chưa có kế hoạch để giải quyết hàng ngàn cá thể gấu bị nuôi nhốt trong các trang trại. Vì vậy nhiều trang trại gấu vẫn duy trì hoạt động dưới chiêu bài bảo tồn gấu mặc dù các gấu tại các trang trại này phải được đăng ký và gắn chíp điện tử.

Buon ban trai phep gau tai Viet Nam van tiep dien - Anh 1

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, kể từ năm 2006, săn bắt, vận chuyển, tàng trữ, quảng cáo, mua, bán, sử dụng gấu, các bộ phận và dẫn xuất của chúng là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, kết quả khảo sát của TRAFFIC đưa ra bằng chứng về việc hàng loạt sản phẩm từ gấu vẫn được bán trên thị trường. 40% trong số 70 hiệu thuốc Y học cổ truyền (YHCT) được khảo sát tại sáu thành phố dọc Việt Nam vào năm 2016 có bán mật gấu. Đây là một sự giảm nhẹ so với 56% hiệu thuốc YHCT có bán mật gấu theo khảo sát năm 2012.

Sản phẩm được bán nhiều nhất là mật gấu tươi, đa phần được quảng cáo là có nguồn gốc từ các trang trại gấu trong nước. Cuộc khảo sát năm 2016 ghi nhận có nhiều người bán lẻ hơn biết rằng buôn bán mật gấu là vi phạm pháp luật. Theo nhận định của các tác giả báo cáo, có thể điều này đang khiến hoạt động buôn bán mật gấu trở nên kín đáo.

Sản phẩm có giá cao nhất là túi mật gấu. Từ năm 2012 đến năm 2016, số hiệu thuốc YHCT có bán túi mật gấu giảm từ 12 xuống còn hai hiệu thuốc. Tuy nhiên, cả hai hiệu thuốc này đều không có sẵn túi mật gấu mà cần phải đặt hàng. Các hiệu thuốc YHCT đều quảng cáo túi mật gấu có nguồn gốc từ gấu trong tự nhiên ở Việt Nam, Lào, Nga và Thái Lan. Người tiêu dùng được cho là sẵn sàng trả nhiều tiền hơn, thậm chí gấp đôi giá, cho các sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc vừa mới được khai thác.

Bà Lalita Gomez, Cán bộ Dự án của TRAFFIC và cũng là một tác giả của báo cáo cho biết, “Theo nghiên cứu của chúng tôi, có khả năng hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật không sinh lời và đang giảm sút tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc buôn bán các sản phẩm từ gấu trong tự nhiên rất đáng lo ngại và là mối đe dọa tiếp diễn tới các quần thể gấu tại Châu Á”.

Theo nghiên cứu của TRAFFIC, động lực buôn bán hiện tại chỉ ra rằng hoạt động nuôi nhốt gấu ở Việt Nam có nhiều khả năng đang làm trầm trọng hóa những đe dọa đến các quần thể gấu trong tự nhiên tại khu vực Đông Nam Á, tạo ra một mạng lưới các cơ sở nuôi nhốt mà tại đó có thể dễ dàng tráo đổi các cá thể gấu bị bắt ngoài tự nhiên vào cơ sở nuôi nhốt.

Bà Madelon Willemsen, Trưởng đại diện Tổ chức TRAFFIC tại Việt Nam cho biết, “TRAFFIC hoàn toàn ủng hộ và hỗ trợ Chính phủ Việt Nam để xây dựng một kế hoạch hành động nhằm chấm dứt hoạt động nuôi nhốt gấu vào năm 2020 và thực thi pháp luật chống lại buôn bán trái phép các sản phẩm từ gấu”.

Tổ chức Động vật Châu Á đã cứu hộ bốn cá thể gấu trong tuần qua, nâng số lượng gấu được cứu hộ lên 165 cá thể, trong đó có 151 cá thể hiện đang được chăm sóc, phục hồi. Tổ chức cũng đang phối hợp với Hội Đông y Việt Nam để cung cấp một cẩm nang về các vị thuốc thay thế mật gấu tới cho cộng đồng YHCT.

Các tác giả báo cáo đề xuất việc áp dụng một lộ trình chống buôn bán trái phép gấu và đóng cửa tất cả trang trại gấu tại Việt Nam để phòng tránh gấu bị tráo đổi từ tự nhiên vào các trang trại. Bà Willemsen cho rằng, “mặc dù đã có đầy đủ các luật bảo vệ gấu nhưng Việt Nam cần đảm bảo các luật này được thực thi đầy đủ”.

Phạm Lê