Bộ Công Thương đã loại 684 dự án thủy điện ra khỏi quy hoạch và tiếp tục rà soát, kiểm tra các dự án nhiệt điện có nguy cơ ô nhiễm…

Bộ Công Thương cho biết trong 3 năm thực hiện rà soát quy hoạch theo Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội, đã loại khỏi quy hoạch 8 dự án thủy điện bậc thang (655 MW bao gồm: thủy điện Pa Ma - 80 MW, Huổi Tạo - 180 MW, Sông Giằng - 60 MW, Đức Xuyên - 58MW, Đồng Nai 6 - 135 MW, Đồng Nai 6A - 106 MW, Tà Lài - 20 MW, Ngọc Định - 16 MW) và 463 dự án thủy điện nhỏ (1.404,68 MW), không xem xét quy hoạch 213 vị trí tiềm năng (349,61MW).

Hiện nay, trên cả nước có 306 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy 15.474,3 MW đang vận hành phát điện; 193 dự án đang thi công xây dựng; 245 dự án đang nghiên cứu đầu tư; còn lại 59 dự án có quy mô nhỏ, đang được tiếp tục rà soát.

Về quy hoạch bậc thang thủy điện trên các dòng sông lớn đã vận hành phát điện 61 dự án; đang thi công xây dựng 31 dự án đang nghiên cứu đầu tư 15 dự án; có 03 dự án chưa cho phép nghiên cứu đầu tư.

Bo Cong Thuong: Loai 684 du an thuy dien; ra soat moi truong nha may nhiet dien - Anh 1

Bộ Công Thương tiếp tục rà soát tác động môi trường của các nhà máy nhiệt điện. Ảnh minh họa

Đối với nhà máy nhiệt điện, cả nước hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất đặt máy 13.110 MW, tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn than/năm, với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15,7 triệu tấn/năm. Dự kiến tới năm 2020 có thêm 12 dự án nhiệt điện than được đưa vào hoạt động và tổng công suất lắp đặt nhiệt điện than là 24.370 MW.

Bộ Công Thương cho biết tính đến tháng 11/2016, các nhà máy đã thực hiện đầy đủ việc lập và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Một số nhà máy đã đi vào vận hành nhưng chưa có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường mà báo chí phản ánh như Vũng Áng, Vĩnh Tân 2, Duyên Hải 1, Formosa Hà Tĩnh cũng đã gấp rút hoàn thành và đã đáp ứng các quy định. Hiện tại, nước thải công nghiệp, sinh hoạt của các nhà máy được xử lý đạt Quy chuẩn về môi trường và hầu hết được tuần hoàn tái sử dụng cho các mục đích khác nhau trong nhà máy.

Nước làm mát sau quá trình trao đổi nhiệt để làm mát bình ngưng, được giải nhiệt và xả ra nguồn tiếp nhận như sông hoặc biển và đảm bảo nhiệt độ thấp hơn 400C để không ảnh hưởng tới môi sinh.

Các nhà máy đều lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống xử lý khí NOx và xử lý khí SO2 (có 02 nhà máy với công nghệ cũ nên không lắp hệ thống xử lý SO2 là Nhiệt điện Phả Lại I và Ninh Bình). Do vậy, khí thải của các nhà máy được xử lý đáp ứng QCVN 22:2009/BTNMT - về khí thải công nghiệp nhiệt điện.

Về khí bụi, Việc kiểm soát bụi, khí thải rất được quan tâm, tuy nhiên với công nghệ hiện nay, khi khởi động lò hơi hoặc khi công suất lò thấp phải đốt kèm dầu FO, HFO và lúc này hệ thống lọc bụi tĩnh điện chưa đưa vào hoạt động do nguy cơ cháy nổ nên có hiện tượng khói đen tại miệng ống khói. Bên cạnh đó, một số nhà máy vẫn còn hiện tượng thu gom và phân loại chất thải nguy hại chưa triệt để, xây kho lưu giữ chất thải nguy hại không đúng quy định, quản lý chứng từ chất thải nguy hại chưa chặt chẽ. Bộ Công Thương đang chỉ đạo các nhà máy nhanh chóng có giải pháp khắc phục hiện tượng này.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục rà soát các dự án có nguy cơ ô nhiễm để kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường và xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật .

Đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường, sẽ thẩm định chặt chẽ các hạng mục bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn thiết kế cơ sở; Đánh giá các nguy cơ, rủi ro về môi trường đối với các dự án đầu tư, giám sát công tác bảo vệ môi trường tại các dự án đầu tư trong giai đoạn xây dựng. Đáng lưu ý là Bộ Công Thương sẽ kiên quyết từ chối đầu tư các dự án có công nghệ tiềm ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, từng bước đổi mới, cải tiến công nghệ đối với các nhà máy hiện có để giảm phát thải, cải thiện môi trường.

Trần Lan