Trải qua 70 năm kể từ ngày Hiến pháp năm 1946 ra đời, trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau, Quốc hội (QH) nước ta đã ban hành nhiều bản hiến pháp trên cơ sở kế thừa và phát huy kinh nghiệm lập hiến và những giá trị chính trị, pháp lý của bản Hiến pháp đầu tiên.

70 nam Hien phap Viet Nam: Dau an tien bo cua chu nghia lap hien - Anh 1

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu.

Cuối tuần qua, trong khuôn khổ các hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Ngày Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam (9/11/1946- 9/11/2016) và chào mừng Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), Văn phòng QH đã tổ chức Hội thảo khoa học “70 năm Hiến pháp Việt Nam”. Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu chủ trì Hội thảo.

Thể hiện tư tưởng pháp quyền vì nhân dân

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Uông Chu Lưu nhấn mạnh, tại Kỳ họp đầu tiên của QH khóa I đã bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp và 8 tháng sau, vào ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ 2, QH khóa I đã thông qua bản Hiến pháp 1946, đặt nền tảng chính trị, pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam mới. Với ý nghĩa đó, ngày 9/11 hàng năm đã được QH ấn định là Ngày Pháp luật Việt Nam để kỷ niệm ngày ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên và để khẳng định vị trí thượng tôn của pháp luật trong đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành và bảo vệ pháp luật tại Việt Nam và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Về nội dung, Hiến pháp 1946 thể hiện rõ tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã có nhiều ý kiến cho rằng Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp thể hiện tư tưởng pháp quyền một cách rất sâu sắc qua việc khẳng định “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”, “những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”… “Rõ ràng, tư tưởng pháp quyền trong Hiến pháp 1946 là rất dân chủ, tiến bộ. Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục kế thừa và phát huy những tư tưởng này như thế nào trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay”- Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu nhấn mạnh.

Theo ông Uông Chu Lưu, Hiến pháp 1946 đã tiếp thu có chọn lọc các hiến pháp dân chủ và tiến bộ của các nước, đồng thời đã Việt hóa một cách tối đa cho phù hợp với điều kiện của nước ta. Điểm nổi bật của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1946 là đề cao vai trò của nghị viện nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước; đề cao tính độc lập của hệ thống tòa án - cơ quan tư pháp; phân quyền rõ nét và hợp lý cho chính quyền địa phương… Cho đến nay, những giá trị này vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để phát huy trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính và xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

“Nghiên cứu các quy định của Hiến pháp 1946 về Nghị viện nhân dân cho thấy, mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan này vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của mô hình Nghị viện đang được tổ chức ở nhiều nước dân chủ trên thế giới vào thời điểm đó, vừa phù hợp với các điều kiện lịch sử đặc thù của chế độ dân chủ nhân dân lần đầu tiên được thiết lập ở nước ta”- PGS.TS Lê Minh Thông, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH nhận định.

Hài hòa giữa tiến bộ văn minh phương Tây và điều kiện của Việt Nam

Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu cũng lưu ý cần phải phân tích, làm rõ những giá trị của các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1946. Trong bản Hiến pháp này, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm, cũng lần đầu tiên người dân Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập, có chủ quyền.

Có thể nói, đây là nội dung đã được nghiên cứu, tiếp thu tương đối nhiều trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013, từ nội dung của từng quy định của Hiến pháp cho đến cấu trúc, vị trí của chương về quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp. Trong thời gian qua, QH cũng đã tích cực thể chế hóa các quy định của Hiến pháp trong các đạo luật quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Tuy nhiên, những bài học trong việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp năm 1946 và các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời kỳ từ năm 1946 đến năm 1960 vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ, nhất là trong bối cảnh Nhà nước ta đang hướng tới việc xây dựng một Nhà nước kiến tạo để tạo điều kiện và khuyến khích người dân tự do phát huy năng lực sáng tạo, góp phần vào quá trình phát triển của đất nước.

Đánh giá Hiến pháp 1946 có nhiều dấu ấn của chủ nghĩa lập hiến hơn cả, GS.TS Nguyễn Đăng Dung khẳng định đây là bản Hiến pháp có cách tiếp cận gần với quyền con người nhất. Theo đó, quyền công dân được Hiến pháp 1946 quy định ngay ở các chương đầu tiên, làm cơ sở cho việc quy định các chương khác.

Cùng quan điểm trên, PGS.TS Vũ Công Giao cho rằng, chế định này được xây dựng với cách tiếp cận cởi mở, tiến bộ, cập nhật với tư tưởng chung của nhân loại nhưng khoa học, chặt chẽ và mang tính thực tế cao. Từ cách tiếp cận, nội dung cho đến ngôn ngữ sử dụng trong việc hiến định các quyền công dân trong Hiến pháp 1946 cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị tiến bộ của văn minh phương Tây với những tư tưởng và điều kiện hoàn cảnh đặc thù của dân tộc Việt Nam ở thời kỳ đó. Những điều này góp phần khẳng định giá trị và tính độc đáo của Hiến pháp 1946 trong lịch sử lập hiến Việt Nam.

Đánh giá cao và ghi nhận những ý kiến đóng góp, trao đổi của các đại biểu, Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết thời gian tới QH, các cơ quan hữu quan cần tiếp tục kế thừa phát triển các giá trị, nội dung của Hiến pháp 1946 vào hoạt động lập hiến, lập pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền; tổ chức thực hiên quyền lực nhân dân, quyền lực Nhà nước thực chất, khoa học, hiệu quả trên tinh thần phân công, phối hợp, kiểm soát để xây dựng Nhà nước kiến tạo phục vụ nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 2013; đẩy mạnh triển khai thi hành Hiến pháp hiệu lực, hiệu quả để Hiến pháp thực sự đi vào cuộc sống.

Khánh Chi