QĐND - Việt Nam đang có những cơ hội để chứng minh lẽ phải với cộng đồng quốc tế trong bối cảnh căng thẳng liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 có nguy cơ leo thang, bất chấp sự kiềm chế của Việt Nam. Giáo sư Da-cha-ri A-bu-da (Zachary Abuza), chuyên gia về an ninh và chính trị Đông Nam Á, đã nhận định như vậy trong một bài viết đăng trên Tạp chí Indo-Pacific Review ngày 3-7. Xin giới thiệu tới bạn đọc nội dung chính bài viết này.

Về ngoại giao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập khả năng Việt Nam chuẩn bị hồ sơ cân nhắc thực hiện đấu tranh pháp lý theo luật pháp quốc tế. Việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Quốc tế đem lại một số lợi ích. Thứ nhất, Việt Nam cho thế giới thấy được thiện ý muốn giải quyết căng thẳng bằng phương thức hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Thứ hai, vụ kiện diễn ra song song với vụ kiện Trung Quốc của Phi-líp-pin. Trong khi Bắc Kinh tuyên bố rằng, nước này sẽ không bị ràng buộc bởi phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế nếu thua kiện và cho đến nay, vẫn chưa phản hồi đơn kiện của Ma-ni-la, điều này chỉ khiến Trung Quốc bị cô lập thêm và khiến người ta hoài nghi về tuyên bố “trỗi dậy hòa bình”, cũng như sự cam kết tuân thủ luật pháp và thông lệ quốc tế của Bắc Kinh. Trung Quốc có thể lu loa rằng mình “hành động tự vệ” trước “sự gây hấn của Việt Nam”, nhưng với bằng chứng là các đoạn video về tình hình trên thực địa, họ đã thua trước tòa án dư luận. Hành động của Trung Quốc mang tính hai mặt khi yêu cầu Liên hợp quốc lên án “sự gây hấn của Việt Nam” nhưng cũng chính Trung Quốc lại phớt lờ Tòa Trọng tài Quốc tế.

Tàu Trung Quốc (bên trái) ngăn cản tàu Cảnh sát biển Việt Nam (bên phải) thực thi pháp luật. Ảnh: CNN

Người ta đã từng hy vọng rằng, Bắc Kinh sẽ nỗ lực tháo ngòi căng thẳng khi cử Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì đến Hà Nội, thế nhưng không phải vậy. Thay vào đó, vị quan chức ngoại giao cấp cao này còn khẳng định, Trung Quốc “sẽ không bao giờ đánh đổi các lợi ích cốt lõi hay chịu nuốt quả đắng làm phương hại đến lợi ích chủ quyền, an ninh và phát triển”.

Bắc Kinh phải biết rằng, các chính sách của họ đang khiến họ bị cô lập trong khu vực và làm xói mòn nhiều lợi ích lâu dài của chính họ. Việc Bắc Kinh tiến hành các hoạt động cải tạo và bồi đắp đất tại bãi đá ngầm Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa cũng như các hành động khiêu khích khác, rõ ràng đã vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Mặc dù không mang tính ràng buộc nhưng DOC quy định các nước không được thay đổi hiện trạng.

Điều quan trọng là nếu các nước khác cũng khởi kiện Trung Quốc, vấn đề Biển Đông sẽ trở thành vấn đề đa phương-điều mà Bắc Kinh lâu nay vẫn luôn tìm cách né tránh. Chiến lược của Bắc Kinh là tiến hành đàm phán song phương với các bên có tranh chấp. Tuy nhiên, những hành động của Trung Quốc gần đây đã khuyến khích các cuộc thảo luận trong ASEAN về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)-vốn bị đình trệ trong thời gian qua. Các nước Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po, Phi-líp-pin và Việt Nam đã nhất trí ủng hộ một vòng đàm phán mới. Đây là điều mà Bắc Kinh không muốn xảy ra.

Cơ sở pháp lý Việt Nam đưa ra phản đối Bắc Kinh rất chặt chẽ, trong khi yêu sách chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc vừa thiếu thuyết phục lại mang tính hai mặt. Thậm chí, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đang né tránh biện hộ cho “đường lưỡi bò” bởi nó hoàn toàn phi lý theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Do đó, nước này đang tìm cách tạo nên “sự đã rồi” và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.

Tình hình căng thẳng hiện tại cũng như hệ lụy từ những cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc vừa qua sẽ khiến tăng trưởng kinh tế năm nay của Việt Nam giảm xuống còn khoảng 5,4%. Điều này là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài sẽ vẫn ở lại Việt Nam. Chính phản ứng của chính phủ trước các cuộc tuần hành và cam kết đền bù đã trấn an các nhà đầu tư về một môi trường đầu tư an toàn, ổn định tại Việt Nam. Bối cảnh này cũng đem lại cơ hội kinh tế cho Việt Nam. Một là, Việt Nam cần giảm phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với thương mại song phương đạt gần 50 tỷ USD năm 2013. Tuy nhiên, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc cũng lên mức 23,7 tỷ USD chỉ trong năm 2013. Đã đến lúc Việt Nam phải đa dạng hóa các đối tác thương mại của mình. Hai là, Việt Nam phải đẩy nhanh nỗ lực kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam đang đứng trước cơ hội tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài bởi chi phí sản xuất tại các nước ASEAN khác ngày một gia tăng. Việt Nam sẽ hưởng lợi rất nhiều nếu tiếp tục tiến hành cải cách kinh tế triệt để.

Với những quyết định đúng đắn, Việt Nam sẽ càng vươn lên mạnh mẽ từ chính thời điểm khó khăn hiện nay.

LÂM TOÀN (giới thiệu)