(ANTĐ) - Trong vòng 20 năm nay, kinh tế Việt Nam đã trở thành “tiêu điểm” của giới quan sát quốc tế. Đây là điều đáng mừng chứ không phải đáng lo. Người ta có quan tâm thì mới theo dõi, nhận xét, đánh giá, giúp mình nhìn rõ mình hơn, tránh được sự ngộ nhận và tự huyễn hoặc. Trong mắt thế giới, có thể coi là một tấm gương soi mình trung thực, trực diện nhất.

Mới đây có hai sự kiện phản ánh góc nhìn khá nghiêm ngặt của các nhà quan sát viên thế giới về tình hình kinh tế Việt Nam. Một là bài báo trên từ The Economist phân tích mô hình kinh tế nước ta. Hai là Công ty xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings trụ sở tại New York và London đã hạ mức xếp hạng tín nhiệm của hai ngân hàng lớn của Việt Nam là Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (VCB). Tờ The Economist nhận định nền kinh tế Việt Nam đang có lợi thế giá nhân công rẻ hơn Trung Quốc, Thái Lan, Phillippines, Indonesia và Malaysia. Tình trạng thiếu điện, cắt điện được xem là dẫn chứng điển hình về tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém của Việt Nam chậm được khắc phục. Cuối cùng bài báo không quên nhắc đến sự kiện Vinashin như một bằng chứng về sự tồn tại của các tập đoàn kinh tế nhà nước “quá lớn không thể sụp đổ”. Dưới góc nhìn của tác giả, nhiều tập đoàn có lợi thế lớn từ nguồn tín dụng giá rẻ và sự hỗ trợ của Nhà nước, do đó vô hình trung trở thành lực cản hoạt động tự do cạnh tranh trong một số lĩnh vực. Có lẽ nhận định trên không phải là phát hiện mới với Việt Nam, song nước ngoài nhìn vào đó để đánh giá khả năng quản trị và tính hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nên rất đáng suy nghĩ. Việc hai ngân hàng hàng đầu của Việt Nam, ACB và VCB bị Công ty Fitch “đánh” tụt hạng tín nhiệm cũng không bất ngờ, bởi bản thân Fitch đã hạ mức xếp hạng tín nhiệm của các khoản vay dài hạn của Việt Nam. Nguyên nhân khiến Fitch hạ mức tín nhiệm của ACB và VCB cũng chính là điều mà giới chuyên gia trong nước quan ngại từ lâu. Đó là chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại như thế nào khi chất lượng tăng trưởng tín dụng khá cao? Những khoản vay đó đi về đâu và bao nhiêu khoản có khả năng trở thành nợ xấu là vấn đề đáng được chú ý và đã được nhắc tới nhiều. Điều mà Fitch lo ngại là, chuẩn mực phân loại nợ xấu của Việt Nam có khác với chuẩn mực của nhiều nền kinh tế khác. Thông thường, tín dụng tăng trưởng cao buộc ngân hàng phải có một mức “đệm an toàn” cao tương ứng, từ vốn tự có để giữ một tỷ lệ an toàn vốn. Trong bối cảnh hiện nay, việc huy động vốn của ngân hàng có dễ dàng hay không, nhà đầu tư nước ngoài cũng bó tay không thể hiểu được. Họ chỉ thấy thị trường chứng khoán đi xuống, áp lực tăng vốn ngày càng đè nặng “lên vai” một số ngân hàng, vì thế họ phải lo ngại về khả năng duy trì vốn an toàn của ACB và VCB. Thực ra việc hạ mức tín nhiệm của 2 ngân hàng, suy cho cùng không chỉ do nội tại của ngân hàng mà còn thể hiện mức “tín nhiệm” về chính sách kinh tế của Việt Nam. Những cụm từ như “giật cục”, “thay đổi bất ngờ”, “thiếu nhất quán”… được các tổ chức nước ngoài viết về chính sách kinh tế, có lẽ vì họ không thể hiểu rõ cách chúng ta nghĩ và làm. Bởi thế, con mắt của thế giới còn phiến diện nên đã đánh tụt hạng mức tín nhiệm của nền kinh tế và một số ngân hàng. Dẫu vậy, theo các chuyên gia, điều quan trọng không phải là họ hiểu về ta ra sao, mà điều ta cần hiểu rõ là trong mắt họ, kinh tế Việt Nam như thế nào, ngân hàng, các tập đoàn nhà nước ra sao, từ đó ta có thể chủ động điều chỉnh “hình ảnh” của kinh tế Việt Nam trong con mắt thế giới. Vấn đề là phải làm sao để hình ảnh của nước ta đẹp dần trong mắt thế giới.