Vụ việc khiếu nại của bà Nguyễn Thị Yến, đã đến lúc để bản đồ địa chính lên tiếng...

Trong bài “ Vụ tranh chấp đất ở Hưng Yên: Cần xem xét lại chứng cứ vụ án ”, chúng tôi đã đánh dấu hỏi về suất đất 40m2 của hộ ông Phan Văn Diên vì diện tích này không có trong hồ sơ vụ án. Bài báo đề ra 2 khả năng: Có thể suất đất này bán không hợp pháp, hoặc vị trí của nó nằm nơi khác chứ không phải là tiếp giáp với diện tích hộ ông Lê Văn Thuận. Bây giờ chúng ta hãy để cho bản đồ địa chính cất tiếng nói…

Bản án số 34/2007/DSST của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang ghi: “Các tài liệu địa chính trước năm 1993 không còn tồn tại đủ để có căn cứ chứng minh nguồn gốc diện tích đất của ông Hoạch là 725m2, không có căn cứ chứng minh ông Thuận có quyền sử dụng hợp pháp 425m2 đất và có chiều dài cạnh phía bắc (giáp đường bê tông xã) là 23m theo như quan điểm của ông.

Giả sử nếu diện tích đất của ông Hoạch là 725m2 thì cũng không có căn cứ xác định UBND xã Xuân Quan đã giao diện tích đất thổ cư của gia đình ông Hoạch cho ông Diên thông qua việc đấu thầu đất dịch vụ..” (Bà Nguyễn Thị Yến cho biết diện tích gia đình là 755m2 nhưng bản án ghi thành 725m2, chúng tôi tôn trọng nguyên văn bản án nên vẫn để là 725m2).

Như các kỳ trước đã nêu, chứng cứ việc diện tích của ông Lê Văn Hoạch sử dụng 755m2, chia cho con Lê Văn Ngoan 330m2, Lê Văn Thuận 425m2 là các xác nhận của bà Lê Thị Hoàn, ông Lê Văn Chi, xác nhận của Chi cục Thuế huyện Văn Giang việc ông Lê Văn Thuận đóng thuế đất 425m2 từ 1986 đến 2011.

Bản án 34/2007/DSST cho rằng tài liệu địa chính trước năm 1993 không còn tồn tại, nhưng nay bà Nguyễn Thị Yến đã được cơ quan địa chính cung cấp bản đồ 299 đo đạc năm 1987, trong đó thể hiện thửa số 209/577 và thửa 210/190 (con số trên là số thửa, con số dưới là diện tích), tổng diện tích hai thửa là 767m2. Nếu theo bản đồ này thì việc ông Lê Văn Thuận nói diện tích sử dụng của gia đình ông 425m2 là có căn cứ.

Ngày 26/9/2016 Văn phòng luật sư Bảo Hiến gửi công văn số 21/2016/CV-BH đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Văn Giang đề nghị cung cấp thông tin địa chính và ngày 28/9/2016, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai có Phiếu cung cấp thông tin số 64/PCCTT-CNVPĐK gửi Văn phòng luật sư. Theo phiếu cung cấp thông tin, tở bản đồ số 4 (đo năm 1993) thửa số 165 người sử dụng đất là ông Lê Văn Thuận, diện tích thửa đất 338m2; thửa số 166 người sử dụng đất là ông Phan Văn Diên, diện tích thửa 95m2, trên sổ mục kê là 96m2; thửa số 120 người sử dụng là ông Lê Văn Ngoan, diện tích thửa là 330m2.

Phần cuối phiếu cung cấp thông tin cũng ghi: Thửa số 209, tờ bản đồ 05 diện tích thửa đất 577m2, loại đất I; thửa số 210, tờ bản đô 05 diện tích thửa 190m2, loại đất ao. Lưu ý rằng thửa đất số 209, 210 ở bản đồ 299 (tổng diện tích 767m2) được thể hiện thành các thửa 120, 165, 166 ở bản đồ năm 1993 (tổng diện tích 764m2), câu hỏi đặt ra là: Ông Phan Văn Diên mua đất của ai mà năm 1993 trong số mục kê đã có tên ở thửa 166/95?

Trên bản đồ kèm theo phiếu cung cấp thông tin địa chính có vẽ các thửa đất có diện tích giống nhau 40m2 xếp thành một dẫy, nằm ngăn cách hẳn với thửa số 166/95, đây mới là vị trí các suất đất dịch vụ 40m2 của UBND xã? Báo Kinh doanh&Pháp luật trích hai bản đồ để bạn đọc xem xét:

Tranh chap dat o Hung Yen: Khi ban do dia chinh len tieng - Anh 1

Các thửa 120, 165, 166 ở bản đồ năm 1993 (tổng diện tích 764m2)

Tranh chap dat o Hung Yen: Khi ban do dia chinh len tieng - Anh 2

Thửa số 209, tờ bản đồ 05 diện tích thửa đất 577m2, loại đất I; thửa số 210, diện tích thửa 190m2, loại đất ao

Hai bản đồ đã đưa ra sự thật hiển nhiên: Bản án 34/2007/DSST kết luận diện tích 40m2 của ông Phan Văn Diên có nguồn gốc mua đất dịch vụ, sau đó xã giao nốt cho ông 56m2 đất thừa liền kề để thành 96m2 là không đúng sự thật, cần phải được xem xét lại.

Phương Đông/KD&PL