Theo báo cáo phân tích về thanh khoản hệ thống ngân hàng vừa được Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) công bố, phần lớn nguồn vốn đang được các ngân hàng đầu tư vào kênh trái phiếu Chính phủ.

Tien dang duoc rot vao dau? - Anh 1

Các ngân hàng đang dành lượng vốn khá lớn đầu tư vào kênh trái phiếu Chính phủ

Thanh khoản hệ thống ngân hàng ở trạng thái khá dồi dào trong phần lớn thời gian của quý 3-2016. Biểu hiện rõ nhất của hiện tượng này là lãi suất liên ngân hàng xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây. Theo báo cáo của BVSC, nếu tính từ đầu tháng 7-2016 cho tới nay thì lãi suất liên ngân hàng trung bình kỳ hạn qua đêm chỉ xấp xỉ là 1%/năm, kỳ hạn một tuần là 1,15%/năm và kỳ hạn hai tuần là 1,37%/năm. Trước đó, trong quý 2-2016, các mức lãi suất này lần lượt là 2,82%, 3% và 3,35%/năm.

Hiện tượng này có phần trái với quy luật hàng năm khi quý 3 và quý 4, lãi suất liên ngân hàng nói riêng và mặt bằng lãi suất huy động - cho vay nhìn chung thường có xu hướng tăng lên. Theo đánh giá của các chuyên gia BVSC, nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là sự chênh lệch giữa cung và cầu vốn.

Cụ thể, tổng phương tiện thanh toán (M2) tiếp tục tăng nhanh và mở rộng khoảng cách so với tăng trưởng tín dụng. Chênh lệch giữa cung tiền M2 và cầu tín dụng tính từ đầu năm đến ngày 20-9 vào khoảng 221 nghìn tỷ đồng (tăng 24 nghìn tỷ đồng so với thời điểm 20-6). Một phần lượng tiền dư ra này đã được các ngân hàng thương mại đầu tư vào kênh trái phiếu Chính phủ với tổng lượng vốn ròng rót là 141.923 tỷ đồng (tăng thêm khoảng 60.000 tỷ đồng so với thời điểm 20-6).

BVSC phân tích, lượng tiền dư ra giữa hai thời điểm chỉ tăng thêm 24.000 tỷ đồng nhưng lượng đầu tư tăng thêm vào trái phiếu Chính phủ lại lên tới 60.000 tỷ đồng. Chính điều này khiến phần vốn dư thừa trong hệ thống đã giảm từ mức 115 nghìn tỷ đồng tại thời điểm 20-6 xuống chỉ còn 79 nghìn tỷ đồng tại thời điểm 20-9. Bên cạnh đó, nhờ lực cầu dồi dào từ các ngân hàng thương mại mà chỉ trong vòng 9 tháng, Kho bạc Nhà nước đã hoàn thành vượt kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ ban đầu cho cả năm nay (250.000 tỷ đồng).

Ngoài kênh trái phiếu Chính phủ thì các ngân hàng thương mại cũng đang hấp thụ một lượng lớn tín phiếu do Ngân hàng Nhà nước phát hành. Kể từ đầu tháng 6-2016 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành một lượng lớn tín phiếu kỳ hạn 7 ngày và 14 ngày (trong đó chủ yếu là kỳ hạn 14 ngày) với lãi suất liên tục giảm và đến nay đã về mức rất thấp (dưới 0,5%/năm cho kỳ hạn 14 ngày). Theo thống kê của BVSC thì lượng vốn hút ròng thông qua kênh tín phiếu tính đến ngày 20-9 vào khoảng 77 nghìn tỷ đồng, tương đương với phần vốn dư thừa còn lại trong hệ thống ngân hàng.

Thanh khoản hệ thống còn dư thừa bao lâu?

Các chuyên gia BVSC dự báo thanh khoản hệ thống sẽ bớt dư thừa hơn trong quý 4-2016 do yếu tố mùa vụ cuối năm khi nhu cầu thanh toán và vay vốn của các doanh nghiệp gia tăng. Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng mặc dù có thể tăng trở lại so với mức đáy hiện nay nhưng mức độ tăng sẽ không nhiều (lên mức khoảng 3- 4%/năm) do thanh khoản hệ thống chỉ bớt dồi dào chứ khó có hiện tượng quá căng thẳng.

Phần vốn dư thừa trong hệ thống hiện đang được các NHTM tạm thời đẩy vào kênh tín phiếu. Đây cũng là kênh để Ngân hàng Nhà nước điều tiết nhằm trung hòa lượng tiền đồng đã bơm ra khi đẩy mạnh hoạt động mua vào ngoại tệ thời gian qua. Động thái này giúp giảm nguy cơ lạm phát do tiền tệ trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, các chuyên gia BVSC cho rằng việc các NHTM phải tạm thời dồn phần lớn lượng tiền dư thừa vào kênh trái phiếu Chính phủ và đặc biệt là kênh tín phiếu với lãi suất không hấp dẫn cho thấy các ngân hàng có thể đang gặp khó khăn trong việc phát triển tín dụng.

Số liệu tăng trưởng tín dụng tính đến cuối quý 3-2016 cho thấy còn một khoảng cách khá xa (khoảng 7-8%) để các ngân hàng thương mại hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng 18-20% cho cả năm nay. Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế có hạn. Nguyên nhân là do một số ngân hàng vướng các quy định về hệ số an toàn vốn theo chuẩn Basel II. Cùng với đó là những lo ngại về nợ xấu khi đẩy mạnh cho vay các lĩnh vực rủi ro.

Nguyễn Hiền