Tại hội nghị “Bàn giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá cơm vùng biển Tây Nam bộ, góp phần bảo vệ làng nghề và thương hiệu nước mắm truyền thống” do Bộ NN-PTNT tổ chức ở Phú Quốc, sáng 2-11, Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cho biết, cả nước có 2.900 cơ sở sản xuất nước mắm, tổng công suất 215 triệu lít/năm; trong đó, 273 cơ sở có công suất một năm từ 100.000 lít trở lên, vùng Tây Nam bộ chiếm 45,7% số cơ sở sản xuất nước mắm lớn.

Cá cơm và nước mắm giảm mạnh

Nước mắm truyền thống là một sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất trong lĩnh vực chế biến thủy sản, trên 2 lần so với nguyên liệu. Do đầu tư không lớn, giá nguyên liệu vừa phải, sử dụng lao động ít, chế biến ra sản phẩm ăn liền. Hiện có khoảng 20 cơ sở đạt điều kiện an toàn thực phẩm để xuất khẩu đi các thị trường EU, Mỹ… Tuy vậy, xuất khẩu còn thấp, chỉ khoảng 4% sản lượng, kim ngạch 10 - 15 triệu USD/năm.

Nước mắm Phú Quốc làm từ cá cơm, nổi tiếng cả trong và ngoài nước, được chứng nhận bảo hộ mang chỉ dẫn địa lý ở trong nước từ năm 2001. Tháng 12-2012, EU trao chứng nhận về tên gọi xuất xứ được bảo hộ, tên gọi “Nước mắm Phú Quốc” được bảo hộ trên lãnh thổ 28 quốc gia thành viên EU. Đây không những là sản phẩm đầu tiên của Việt Nam mà cả Đông Nam Á được EU trao chứng nhận này.

Nước mắm Phú Quốc có lợi thế từ nguồn cá cơm đặc biệt cùng điều kiện khí hậu nắng gió, nguồn nước và bí quyết công nghệ trên 200 năm. Hoạt động sản xuất đã quy trình hóa và được kiểm soát tốt theo tiêu chuẩn chất lượng đặc thù. Thế nhưng, Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cũng cho biết, nước mắm cá cơm Phú Quốc đang bị thách thức lớn do nguồn nguyên liệu cá cơm giảm về số lượng và chất lượng dẫn đến sản lượng và chất lượng nước mắm giảm. Từ đánh bắt cá cơm nguyên liệu đến sản xuất nước mắm có hiện tượng chạy theo số lượng, nạn hàng giả và hàng nhái tấn công, truyền thông về sản phẩm còn kém.

Viện Nghiên cứu hải sản cho biết, trữ lượng cũng như sản lượng khai thác cá cơm ở vùng biển Tây Nam bộ giảm nhiều trong những năm qua. Về trữ lượng cá cơm, từ 172.000 tấn trong giai đoạn 2004 - 2005, còn 130.000-152.000 tấn ở giai đoạn 2012-2015. Sản lượng khai thác từ 120.000 tấn/năm ở giai đoạn 2004-2006, xuống còn 83.000 tấn/năm ở giai đoạn 2014-2015. Tính ra, trữ lượng và sản lượng khai thác đã giảm 20%-30% chỉ trong 10 năm. “Cường lực khai thác cá cơm của nghề lưới vây đã vượt cường lực khai thác bền vững tối đa”, Viện Nghiên cứu hải sản kết luận.

Nguồn cá cơm không đáp ứng đủ cho sản xuất nước mắm, nhiều nhà thùng ở Phú Quốc đã phải giải thể. Sở NN-PTNT tỉnh Kiên Giang cho biết, năm 2011-2012, Phú Quốc có 100 hộ sản xuất nước mắm, đầu năm 2016 chỉ còn 56 hộ. Về sản lượng, năm 2011-2012, Phú Quốc sản xuất 25-30 triệu lít nước mắm, còn hiện nay cá cơm chỉ đáp ứng 50%-60% nhu cầu nên dự kiến cả năm chỉ đạt khoảng 20 triệu lít.

Tan diet ca com anh huong san luong nuoc mam - Anh 1

Thu mua cá cơm ở Phú Quốc.

Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cảnh báo: “Việc khai thác “tận diệt”, không có chính sách hướng tới duy trì, bảo tồn và khai thác lâu dài dẫn đến kết quả là không còn nguyên liệu để sản xuất. Tất yếu sản phẩm nước mắm cá cơm Tây Nam bộ sẽ vắng bóng trên thị trường”.

Giảm áp lực khai thác cá cơm

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Kiên Giang, hiệu quả khai thác cá cơm giảm mạnh thời gian qua, đặc biệt cá cơm ít tụ thành đàn như trước đây. Từ năm 2010 đến 2015, số tàu lưới vây đánh bắt cá cơm của tỉnh Kiên Giang trên dưới 230 chiếc, tổng công suất tăng gần 30%, trong lúc sản lượng cá cơm chỉ xoay quanh 20.000 tấn/năm. Trước đây, cá cơm đi từng đàn rất lớn ở khu vực quần đảo Phú Quốc, Nam Du, Thổ Chu, nghề lưới vây cá cơm chỉ vây ngời, tức là phát hiện cá thì dùng lưới vây bắt. Đàn cá bị vây gần như 100% là cá cơm đã trưởng thành, rất tốt để chế biến nước mắm có độ đạm cao. Sau năm 2000 có quá nhiều tàu của nhiều tỉnh đến Kiên Giang khai thác cá cơm, nên cá cơm ít tụ thành đàn. Đa số ngư dân đã phải chuyển sang khai thác cá cơm có kết hợp ánh sáng; một tàu lưới vây đi kèm 2-3 tàu chong đèn công suất cao để thu hút cá cơm tụ lại, để buông lưới vây. Bên cạnh đó, còn khoảng 500 tàu cá từ các tỉnh khác vào làm nghề pha xúc, dùng ánh sáng công suất cao dụ cá tụ lại để xúc hải sản hỗn tạp, ngoài cá cơm còn lẫn nhiều loài cá khác.

Cũng theo Sở NN-PTNT Kiên Giang, do có quá nhiều tàu kéo lưới đôi nên góp phần hủy diệt cá cơm. Tính đến cuối tháng 6-2016, Kiên Giang có 2.720 tàu kéo lưới đôi với tổng công suất 1.593.729 mã lực, khai thác trên 70% sản lượng hải sản của tỉnh. Trong đó, cá tạp chiếm 40% sản lượng với “tỷ lệ cá cơm đáng kể” chỉ để làm phân hoặc chế biến thức ăn gia súc.

Các đại biểu dự hội nghị cho rằng, để duy trì trữ lượng ở trạng thái cân bằng vì mục tiêu sử dụng bền vững nguồn lợi thì việc điều chỉnh giảm áp lực khai thác đối với nhóm cá cơm là cần thiết. Cần đưa ra chính sách khai thác, bảo tồn nguồn lợi cá cơm vùng Tây Nam bộ ngay từ bây giờ, loại bỏ những nghề đánh bắt hải sản ảnh hưởng đến môi trường sống của cá cơm.

SÁU NGHỆ