Theo số liệu khảo sát sự hiểu biết của các doanh nghiệp về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại TPHCM thực hiện cuối năm 2015, 20% doanh nghiệp chưa từng nghe về TPP; 45% có nghe nhưng không hiểu sâu; 26% từng tìm hiểu sơ bộ; chỉ có 9% là đã tìm hiểu tương đối kỹ, và mức độ hiểu biết của doanh nghiệp các tỉnh, thành khác thấp hơn so với TPHCM.

Phuc tap nhu chung nhan xuat xu - Anh 1

Muốn có ưu đãi, phải biết tuân thủ

Theo kết quả khảo sát trên thì có đến 91% doanh nghiệp khá lơ mơ về TPP.
Thứ nhất, những doanh nghiệp không làm hàng xuất khẩu có lý do để chưa thực sự quan tâm đến TPP cũng như các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác.

Nhưng cũng cần phải nói rằng những doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu thì không lơ mơ với các FTA. Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế từ các FTA theo các mặt hàng trong tháng 5-2016 là cao. Ví dụ tỷ lệ khối lượng hàng xuất khẩu tận dụng ưu đãi thuế từ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) với thủy sản là 57,7%; hạt điều 108,3%; cà phê 105,1%; giày dép 81,3% (những tỷ lệ trên 100% là do các doanh nghiệp nộp tờ khai hải quan trước khi xin giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O hồi tố). Hay tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) với thủy sản 94,35%; hạt điều 144,31%; cà phê 87,5%; giày dép 103,22%; dệt may 78,71%. Có thể trong số những doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế, ví dụ từ VKFTA, có nhiều doanh nghiệp FDI từ Hàn Quốc, nhưng không thể phủ nhận những con số này là rất thuyết phục.

Thứ hai, có những doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng TPP sẽ được chính phủ mới của Mỹ (sau bầu cử vào cuối năm nay) phê chuẩn, mà thiếu Mỹ, TPP sẽ chẳng còn lợi ích gì. Do vậy, họ chưa cần tìm hiểu kỹ về TPP.

Tuy nhiên, cho dù viễn cảnh TPP có mờ nhạt thì doanh nghiệp vẫn cần phải trang bị các kiến thức để hội nhập. Chưa có TPP thì Việt Nam cũng đã tham gia hơn 10 FTA và đang đàm phán các FTA với Israel, Cuba, Hồng Kông, Khối thương mại tự do châu Âu (gồm 4 nước Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) và Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP). Ông Trần Bá Cường từ Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương, cho biết: “Kể cả khi đã có TPP, doanh nghiệp vẫn có thể vận dụng các FTA khác nếu có ưu đãi tốt hơn”.

Thứ ba, cũng là vấn đề đáng lưu ý nhất đó là nhiều doanh nghiệp vẫn nghe đưa tin là ngay khi TPP có hiệu lực thì 90-95% sản phẩm được đưa về mức thuế suất 0%, tức họ được vẽ ra một một viễn cảnh tươi sáng nhưng không được nghe nói cần phải làm thế nào để được hưởng mức thuế suất đó.

Nói như ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch Công ty May Sài Gòn, “không ai cho không người khác cái gì”. “Đừng thấy trong hiệp định này hay hiệp định khác nói sau bao nhiêu năm thì sẽ giảm bao nhiêu dòng thuế mà vội mừng. Trước khi nói đến chuyện hưởng ưu đãi thuế từ các FTA, chúng ta cần phải nói thật nhiều đến các quy tắc xuất xứ. Mục tiêu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam đến năm 2030 đạt kim ngạch xuất khẩu 50 tỉ đô la Mỹ sẽ không thể đạt được nếu kiến thức về quy tắc xuất xứ hàng hóa của ta còn kém, và công nghiệp hỗ trợ của ta còn yếu như hiện nay. Tôi thấy các FTA mang lại nhiều thách thức hơn là cơ hội cho các doanh nghiệp”, ông Hùng nhận xét.

Điều kiện quan trọng để hưởng mức thuế quan ưu đãi chính là hàng hóa bắt buộc phải đáp ứng quy tắc xuất xứ được thiết kế riêng cho từng FTA để được cấp C/O - căn cứ pháp lý quan trọng nhất để cơ quan hải quan nước nhập khẩu xác định hàng hóa đến từ đâu, có đủ điều kiện để hưởng mức thuế quan ưu đãi hay không.

Hiểu đúng khi vận dụng quy tắc xuất xứ

Hàng được hưởng ưu đãi thuế quan có xuất xứ thuần túy hoặc không thuần túy, cần hiểu đúng để vận dụng đúng. Ví dụ, giống lúa Việt Nam, nông dân Việt Nam trồng nhưng thuê đất trồng ở Campuchia thì vẫn coi là không có xuất xứ thuần túy Việt Nam, không được hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu. Nhưng giống lúa Thái Lan, được trồng và thu hoạch ở Việt Nam thì lại có xuất xứ thuần túy Việt Nam. Hay bò con Úc nhập về nuôi tại Việt Nam không được coi là xuất xứ Việt Nam, nhưng nhập bò mẹ Úc đang mang thai, đẻ ra bò con ở Việt Nam và nuôi ở Việt Nam thì được coi có xuất xứ từ Việt Nam. Hoặc cá ngừ đại dương nếu được đánh bắt trong lãnh hải Việt Nam (từ đường cơ sở đến 12 hải lý) bởi bất kỳ tàu nào cũng được coi là có xuất xứ Việt Nam, nhưng đánh bắt ở vùng đặc quyền kinh tế (từ đường cơ sở đến 200 hải lý) hoặc ở vùng biển quốc tế (ngoài 200 hải lý), cá ngừ chỉ có xuất xứ Việt Nam khi tàu đánh bắt đăng ký tại Việt Nam và treo cờ Việt Nam.

Với hàng có xuất xứ không thuần túy, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng biết vận dụng một số quy tắc xuất xứ để được hưởng thuế quan ưu đãi, như quy tắc hàng tân trang; quy tắc bộ hàng hóa có 10% trị giá không cần xuất xứ; quy tắc De Minimis loại trừ điều kiện xuất xứ đối với một số nguyên phụ liệu sản xuất; quy tắc cộng gộp; quy tắc cụ thể mặt hàng. Nhưng đi vào vận dụng cụ thể từng trường hợp thì không hề đơn giản.

Có doanh nghiệp phân vân về phụ kiện, phụ tùng không có xuất xứ từ các nước thành viên tham gia FTA đi kèm theo hàng chính thì sản phẩm có được ưu đãi thuế hay không? Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu, trả lời là được. Ví dụ ti vi sản xuất ở Việt Nam nhưng thiết bị điều khiển từ xa sản xuất ở Trung Quốc thì coi như cả bộ ti vi vẫn có xuất xứ Việt Nam.

Vật liệu đóng gói, bao bì cũng không tính vào để xét xuất xứ. Ví dụ máy ảnh sản xuất ở Việt Nam nhưng túi nylon bọc máy được làm tại Thái Lan, thùng carton sản xuất ở Trung Quốc thì sản phẩm vẫn được coi là xuất xứ từ Việt Nam. Các nguyên liệu gián tiếp để sản xuất như găng tay, dầu nhớt, khuôn đúc cũng được miễn trừ khi xét xuất xứ.

Quy tắc De Minimis cho phép một tỷ lệ linh hoạt không cần xuất xứ (thường là 10%) vẫn được coi là có xuất xứ, nhưng chỉ được áp dụng với nguyên liệu sản xuất chứ không được áp dụng với hàng sản xuất thuần túy, tức là không được áp dụng với sản phẩm cuối cùng. Ví dụ xuất 10 tấn gạo, trộn từ 9 tấn gạo Việt Nam với 1 tấn gạo Trung Quốc thì không được áp dụng De Minimis. Nhưng sản xuất xúc xích từ 100 ki lô gam thịt bò, trong đó có dùng 10 ki lô gam thịt bò Úc thì xúc xích vẫn được coi là có xuất xứ Việt Nam.

Những công đoạn gia công, chế biến đơn giản như gửi hàng, đánh bóng, đóng gói ở một nước khác không làm thay đổi quy tắc xuất xứ sản phẩm của nước sản xuất chính. Tuy vậy, phải “coi chừng” từng trường hợp để vận dụng. Ví dụ đánh bóng kim cương là công đoạn tạo ra giá trị lớn cho kim cương, không thể coi là gia công đơn giản, mà là gia công phức tạp.

Tự chứng nhận xuất xứ

Hiện nay, Bộ Công Thương ủy quyền cho các khu chế xuất, khu công nghiệp, phòng xuất nhập khẩu các khu vực, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cấp C/O cho các doanh nghiệp. Riêng C/O mẫu D xuất hàng đi các nước ASEAN phải được cấp trên Internet (www.ecosys.gov.vn) để hải quan các nước trong khu vực có thể truy cập kiểm tra.

Về việc doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ thì phải thỏa mãn các điều kiện sau: chưa từng vi phạm thuế và hải quan, chưa từng vi phạm xuất xứ, kim ngạch xuất khẩu trên 10 triệu đô la Mỹ, cán bộ doanh nghiệp có bằng chứng nhận có trình độ tự chứng nhận xuất xứ. Tuy nhiên, hình thức tự chứng nhận xuất xứ của doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ trong giai đoạn thí điểm với các nước Lào, Philippines, Thái Lan, Indonesia.

Cẩn trọng khi làm chứng nhận xuất xứ

Có chuyện một doanh nghiệp làm giấy chứng nhận C/O cho sản phẩm “vôi sống” theo mã HS là 25, nhưng ghi tiếng Việt không bỏ dấu nên cơ quan cấp C/O cho “voi sống” theo mã HS 01 là động vật sống. Hàng vôi sống xuất qua Malaysia bị từ chối ưu đãi thuế quan vì sai rành rành.

Bà Trịnh Thị Thu Hiền khuyên các doanh nghiệp nên cẩn trọng với mã số HS, ngôn ngữ khai báo, mẫu chữ ký và con dấu... khi làm hồ sơ C/O. Trong một hồ sơ mà dùng các mẫu mực con dấu khác nhau cũng có thể bị thuế quan nước khác từ chối. Hải quan các nước như Indonesia hay Philippines luôn tìm mọi cách để từ chối C/O, từ chối ưu đãi thuế, nhiều khi họ viết thư đề nghị xác minh lại với văn phong của một thư từ chối nên các doanh nghiệp cần tỉnh táo để đấu tranh.

Các doanh nghiệp cũng nên trung thực về xuất xứ sản phẩm để tránh bị ghi vào “sổ đen” của hải quan nước nhập khẩu, về sau sẽ rất khó xin ưu đãi thuế. Họ có thể tra cứu Google Map để xem địa chỉ nhà sản xuất, tra cứu Internet để biết tên công ty đúng hay không. Họ có thể căn cứ theo mùa, điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng để nghi ngờ về khai báo xuất xứ, ví dụ trái vải xuất vào mùa đông là có thể bị nghi ngờ. Hay như quy định hàng hóa có hàm lượng khu vực (regional value content, RVC) trên 40% là được hưởng ưu đãi thuế mà doanh nghiệp khai báo hàng của mình có RVC 41% là có thể bị nghi ngờ...

Nhìn chung, những doanh nghiệp mới tham gia sản xuất hàng xuất khẩu hoặc đã có kinh nghiệm trong xuất khẩu nhưng chuyển đổi mặt hàng sản xuất nên tham khảo kỹ với các chuyên gia xuất nhập khẩu để làm tốt khâu chứng nhận xuất xứ nhằm được ưu đãi thuế. Doanh nghiệp có thể đặt câu hỏi để được giải đáp tại cổng thông tin của Bộ Công Thương: http://www.moit.gov.vn/vn/pages/hoidap.aspx.