(TBKTSG Online) - NHNN đã và đang linh hoạt cho phép các ngân hàng mở rộng tín dụng ngoại tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Hồng Phúc

Đến cuối tháng 5-2014, tín dụng ngoại tệ đã tăng 9,35% so với cuối năm 2013 nhưng tín dụng chung đối với nền kinh tế chỉ tăng 1,51%. Ảnh: TL

Trong một thông điệp được NHNN gửi báo chí hôm nay 6-7, bà Nguyễn Thị Hồng - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, cơ quan này đã và đang cho phép các ngân hàng mở rộng tín dụng ngoại tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Điều này không gây lo ngại cho thị trường tín dụng như một số ý kiến mà vẫn nằm trong các giải pháp điều hành linh hoạt có kiểm soát của NHNN.

Theo bà Hồng, đến cuối tháng 5-2014, tín dụng ngoại tệ đã tăng 9,35% so với cuối năm 2013 và hệ số sử dụng vốn hệ thống các tổ chức tín dụng (tín dụng ngoại tệ/huy động ngoại tệ trong nước) lên tới 99,5%.

”Nhưng tín dụng chung đối với nền kinh tế chỉ tăng 1,51%. Trên thực tế, nếu tính cả các khoản tiền gửi ngoại tệ trong nước khác và nguồn vốn nước ngoài thì hệ số sử dụng vốn ngoại tệ/tổng vốn huy động chỉ khoảng từ 50-60%” bà Hồng cho biết. ”Điều đó cho thấy, nếu không có sự linh hoạt này, tín dụng toàn hệ thống đến cuối tháng 5-2014 khó có thể tăng được 1,51%, và việc tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tín dụng chung, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, bà Hồng nói.

Tuy tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đến cuối tháng 5-2014 là 9,35% so với cuối năm 2013 nhưng không đáng quan ngại. Bà Hồng nêu ra ba lý do.

Thứ nhất, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 9,35% so với cuối năm 2013 nhưng nếu so với cùng kỳ năm 2013 thì chỉ tăng có 1,34%.

Thứ hai, nếu tính cả các khoản tiền gửi ngoại tệ trong nước khác và nguồn vốn nước ngoài (các khoản vay nước ngoài, các khoản tiền gửi của ngân hàng nước ngoài tại ngân hàng trong nước, các khoản cấp tín dụng của ngân hàng mẹ ở nước ngoài cho chi nhánh ngân hàng hoạt động tại Việt Nam, các khoản ủy thác bằng ngoại tệ từ Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế và các tổ chức khác để các ngân hàng cho vay ngoại tệ trong nước) thì hệ số sử dụng vốn này thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng từ 50-60%.

Thứ ba, việc linh hoạt chấp thuận cho các ngân hàng cấp tín dụng ngoại tệ chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ (doanh nghiệp vay để thanh toán các chi phí trong nước thực hiện các phương án sản xuất hàng xuất khẩu, nên khi xuất khẩu sẽ có nguồn thu ngoại tệ; doanh nghiệp vay để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhưng doanh nghiệp có đủ nguồn thu bằng ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ vay). Theo đó, khi các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ vay sẽ không tạo áp lực tới việc các ngân hàng phải bán ngoại tệ để trả nợ vay.

Đối với trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ nhưng không có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ vay, các ngân hàng chỉ xem xét cho vay đối với các nhu cầu vốn để phục vụ các lĩnh vực ưu tiên khuyến khích của Chính phủ nhằm góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong bối cảnh hiện nay.

Khi cho vay, bản thân các ngân hàng đã chủ động cân đối được nguồn ngoại tệ cho vay cũng như nguồn ngoại tệ bán cho doanh nghiệp để trả nợ vay (nguồn vốn cân đối chủ yếu từ nguồn vốn ở nước ngoài, từ ngân hàng mẹ ở nước ngoài hoặc từ các nguồn vốn ủy thác bằng ngoại tệ của các tổ chức tài chính quốc tế hoặc chính phủ).