Đây là nhận định của TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia về khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng trong khoảng 6%/năm của Chính phủ.

Mặc dù vẫn còn các rủi ro ảnh hưởng tới lạm phát, đặc biệt là giá xăng dầu cao và việc sắp tăng giá điện song ông Ngoạn cho rằng khả năng kiểm soát tốc độ tăng CPI cả năm ở mức 1 chữ số là hiện thực.

Bên cạnh đó, với mục tiêu tăng trưởng trong khoảng trên dưới 6% (6-6,5%), trong khi quý I/2012 mức tăng trưởng đã giảm sút, chỉ còn 4%, tính chung, để đạt được mục tiêu trên, trung bình 3 quý còn lại của năm 2012 GDP sẽ phải đạt 6,6%.

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Ngoạn, tăng trưởng năm 2012 chỉ có thể là 5,6-5,9% - ngay cả mục tiêu này cũng khó thực hiện. Bởi GDP quý I mới chỉ đạt 4% mà lịch sử nền kinh tế Việt Nam chưa từng có Quý II cao hơn quý I (trừ năm 2009). Tăng trưởng quý II có tốt lắm cũng chỉ 4,8%, kém khả quan hơn thì 4,4 - 4,5%. Cần khẳng định, với những thông số đầu tư như hiện nay, không thể có quý II lên mức 5% chứ đừng nói đến mục tiêu 5,6-5,8%.

Khảo sát thực trạng doanh nghiệp tại Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh mới đây cho thấy hiện hàng tồn kho của doanh nghiệp nhiều ngành còn khá cao, tình trạng chiếm dụng vốn, bán hàng nhưng không thu hồi được tiền phổ biến, đặc biệt, với chi phí tài chính cao, cùng khả năng sinh lời suy giảm… nhiều doanh nghiệp đã không trích khấu hao để từ đó tăng lợi nhuận, làm đẹp các báo cáo tài chính. Điều này chỉ chứng minh tình trạng doanh nghiệp đang thực sự khó khăn, đến mức, doanh nghiệp đã phải tự “ăn thịt” mình.

Cũng chung quan điểm, TS Phạm Đỗ Chí, chuyên gia chương trình STAR Plus/ USAID cũng cho rằng: Các dấu hiệu về giảm tốc độ tăng trưởng, thậm chí là đình đốn sản xuất bắt đầu từ quý 3/2011 đã trở nên rõ nét hơn trong ba tháng đầu năm 2012. Tăng trưởng tín dụng âm trong 3 tháng đầu năm nay, cũng như mức nhâp siêu chỉ là 250 triệu USD, ngoài chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục giảm… là các dấu hiệu phản ánh tình trạng này.

Chính vì thế, cần phối hợp và hoán chuyển chính sách để chặn đình trệ sản xuất, nới nỏng chính sách tiền tệ qua giảm lãi suất và vẫn kiềm chế lạm phát qua thắt chặt thêm chính sách tài khóa.

Sự phối hợp giữa các chính sách vĩ mô cần phải được thực hiện theo hướng phối hợp hoạch định mục tiêu và chính sách tiền tệ của NHNN với các mục tiêu hàng năm và hàng quý về cung tiền M2 với kế hoạch phát hành phù hợp cho tín phiếu kho bạc hay trái phiếu Chính phủ của Bộ Tài chính.

Mặt khác, cần phối hợp xây dựng chính sách vĩ mô một cách toàn diện và căn bản hơn bằng lập trình tài chính với sự chủ trì của Bộ KH và ĐT phối hợp với Bộ Tài chính, NHNN, Bộ Công Thương để đạt các mục tiêu hàng năm về lạm phát, tăng trưởng và cán cân thanh toán tổng thể của nền kinh tế cần thực hiện.

Đặc biệt, kiềm chế chi tiêu ngân sách cần được áp dụng ngay từ năm 2012 và trong việc lập dự toán cho tài khóa năm 2013. Việc kiểm soát mức tổng chi ngân sách không vượt quá nhiều so với dự toán cần được thực hiện cả ở ngân sách trung ương và địa phương. Giảm chi thường xuyên trong dự toán ngân sách năm 2012 chỉ thực hiện cải cách tiền lương là 59.300 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, cần giảm chi đầu tư ngoài dự toán gồm chi đầu tư của Ngân hàng Phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội. Đồng thời, hạn chế chi thông qua giảm nguồn vốn bằng cách phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, phát hành trái phiếu của các NH ngày không yêu cầu Chính phủ bảo lãnh.

Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Tăng điều kiện bảo lãnh Chính phủ vay trong nước và nước ngoài để hạn chế cấp bảo lãnh.

Mặt khác, điều hành thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối chặt chẽ, linh hoạt, thận trọng bằng công cụ tiền tệ, phù hợp với thị trường, bỏ sớm hay hạn chế sử dụng công cụ hành chính.

Trong đó, cần dựa nhiều hơn vào thị trường mở và chính sách dự trữ bắt buộc, đặc biệt là với các khoản tiền gửi ngoại tệ để kiểm soát cung tiền. Mức tăng tổng phương tiện thanh toán nên tương đương với mức tăng GDP danh nghĩa mà Quốc hội phê duyệt.

(T.Hương)