Năm 2008, mẹ tôi có vay nợ của 6 người, mỗi người 20 triệu đồng, tổng giá trị là 120 triệu đồng. Năm 2010, mẹ tôi kinh doanh thua lỗ, 6 người này đã làm đơn ra tòa khởi kiện mẹ tôi. Tòa án đã xét xử và buộc mẹ tôi phải thi hành án. Do mẹ tôi không có tiền nên bị cơ quan thi hành án dân sự kê biên nhà ở, nhưng nhà ở là do bố tôi đứng tên. Bố tôi không biết việc mẹ tôi vay nợ và không liên quan. Bản án ghi người phải thi hành án là tên mẹ tôi nhưng khi kê biên thì lại ghi kê biên nhà ở và thửa đất của bố và mẹ tôi. Như vậy cho tôi hỏi là đúng hay sai? Nguyễn Thị Thu Thảo (Huyện Ba Vì)

Trả lời:

Việc cơ quan thi hành án kê biên nhà đất của bố bạn là đúng hay sai thì cần xem xét nhiều yếu tố.
Thứ nhất, xét mục đích vay tiền của mẹ bạn: Trường hợp mẹ bạn vay tiền để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình bạn thì bố bạn cũng phải có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. (Nội dung của Khoản 1 Điều 37 là: Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm).

Thứ hai, xét quyền sở hữu của mẹ bạn đối với nhà đứng tên của bố bạn: Theo quy định tại Điều 33, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này. Nội dung Khoản 1 Điều 40 là: Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Như vậy, trường hợp tài sản chỉ đứng tên bố bạn nhưng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của bố bạn thì đó là tài sản chung của bố mẹ bạn. Cơ quan thi hành án có quyền kê biên phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mẹ bạn.

Vậy bạn có thể xem xét lại trường hợp của gia đình mình để xác định việc thi hành án là đúng hay sai.

Ban Bạn đọc