GD&TĐ - Đã từ lâu, thống kê luôn được coi là công cụ sắc bén của nhận thức và quản lý. Trong quản lý kinh tế, ở tầm vi mô, vai trò của thống kê thể hiện xuyên suốt trong quá trình quản trị doanh nghiệp.

Những tài liệu thống kê kịp thời, chính xác và đồng bộ giúp các nhà quản trị đưa ra những quyết định kịp thời, đúng đắn trong quản lý, giúp doanh nghiệp phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh.

Các phương pháp thống kê là cơ sở khoa học để doanh nghiệp tiến hành điều tra, nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp... Bởi vậy, nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hết sức coi trọng công tác thống kê.

Trong tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp luôn có một bộ phận thống kê, có thể là độc lập (phòng thống kê), có thể là lồng ghép hoặc cũng có thể giao cho một bộ phận nào đó kiêm nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận thống kê thường được quy định khá cụ thể, chi tiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị.

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, hàng không... đã sử dụng triệt để công cụ thống kê để nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm mới và hoàn thiện những sản phẩm hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

Bên cạnh đó, có khá nhiều doanh nghiệp sản xuất, dựa vào chính nguồn tài liệu thống kê lịch sử của mình và của thị trường để dự báo quy luật cung, cầu về từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp đang tiến hành sản xuất.

Chính vì vậy, kế hoạch sản xuất đặt ra luôn bám sát thị trường và doanh nghiệp đã trụ vững trong cạnh tranh cho dù nền kinh tế vẫn đang trong thời kỳ khó khăn, hậu khủng hoảng Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, công tác thống kê trong các doanh nghiệp nước ta vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém. Cụ thể:

Thứ nhất, nhận thức về công tác thống kê của nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế. Họ thường coi công tác thống kê chỉ là một công việc phụ trợ, giúp lãnh đạo hoàn thành các báo cáo thống kê định kỳ cho cơ quan chủ quản và các cấp chính quyền theo quy định của pháp luật. Số liệu báo cáo thiếu chính xác, thiếu tính cập nhật, thậm chí là không đúng sự thật.

Tài liệu thống kê sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp thiếu tính chi tiết, cụ thể và đồng bộ. Vì thế, nguồn tài liệu này nếu sử dụng để nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến doanh nghiệp, đến ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ rất hạn chế, thậm chí không sử dụng được.

Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu thống kê của một số ngành nghề kinh doanh chưa đảm bảo thống nhất về nội dung và phương pháp tính toán. Vì thế, có những chỉ tiêu tính ra không thể so sánh được giữa các doanh nghiệp cùng một ngành nghề.

Ngay trong nội bộ một doanh nghiệp, cùng một chỉ tiêu nhưng khi tính toán lại khác nhau giữa các thời kỳ, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng tài liệu thống kê trong quản lý và nghiên cứu.

Chẳng hạn, có những doanh nghiệp khi tính chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tính cho những công nhân trực tiếp sản xuất, nhưng cũng có những doanh nghiệp lại tính cho toàn bộ cán bộ, công nhân viên của mình...

Thứ ba, đại bộ phận những người làm công tác thống kê trong các doanh nghiệp hiện nay thiếu kiến thức chuyên môn về thống kê, thậm chí là không được trang bị.

Cong tac thong ke voi cac doanh nghiep thoi hoi nhap - Anh 1

Giảng viên và sinh viên khoa Thống kê (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân)

Bởi vậy, nhận thức và chất lượng công tác thống kê đã yếu kém lại càng yếu kém hơn. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa biết sử dụng công cụ thống kê để dự báo, để lập các kế hoạch kinh doanh. Có những cán bộ làm công tác thống kê, nhưng không phân biệt được thế nào là chỉ tiêu, thế nào là tiêu thức thống kê, thậm chí đồng nhất giữa chỉ tiêu và tiêu chí...

Thứ tư, một số doanh nghiệp vì bệnh thành tích nên đã làm cho con số thống kê méo mó, thiếu tính khách quan và trung thực khi báo cáo. Từ đó dẫn đến tâm lý “không tin tưởng vào con số thống kê”, xem nhẹ công tác thống kê trong quản trị doanh nghiệp.

Hiện tượng này diễn ra khá nhiều trong thời kỳ bao cấp cho đến hiện nay, thậm chí còn tồn tại ngay ở một số cơ quan quản lý Nhà nước.

Thứ năm, công tác bảo quản và lưu trữ tài liệu thống kê phần lớn chưa được lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm,thậm chí có doanh nghiệp không hề chú ý đến công việc này. Tài liệu nào cần phải bảo quản và lưu trữ cũng không được phân loại và xác định rõ ràng, cụ thể.

Trong những doanh nghiệp có lưu trữ thì tài liệu thống kê cũng thiếu tính đồng bộ và chi tiết nên hiệu quả khai thác, sử dụng rất hạn chế...

Nguyên nhân hạn chế và yếu kém trên chủ yếu là do các doanh nghiệp nước ta hiện nay phần lớn đều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là siêu nhỏ, hoạt động sản xuất kinh doanh của họ còn manh mún, nhỏ lẻ.

Trong khi đó nhiều lãnh đạo doanh nghiệp lại chưa được đào tạo bài bản, chính quy, cho nên nhận thức của họ về công tác thống kê và việc vận dụng những kiến thức thống kê trong quản lý còn hạn chế.

Bên cạnh đó, nhiều nhà quản trị doanh nghiệp tuy được đào tạo qua trường lớp, đúng chuyên ngành quản trị song những kiến thức thống kê mà họ có được còn sơ sài, thậm chí không được trang bị...

Là một trong những cơ sở đào tạo cán bộ thống kê lâu năm nhất và có uy tín nhất Việt Nam, cán bộ, giáo viên khoa Thống kê - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đã từ lâu nhận thức rất rõ về những hạn chế và yêu kém trong công tác thống kê của doanh nghiệp. Vì vậy, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của nền kinh tế, chương trình đào tạo cử nhân thống kê của khoa đã có những thay đổi căn bản.

Năm 2012, được sự đồng ý của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, khoa Thống kê đã thành lập bộ môn “Thống kê kinh doanh” với mục tiêu là đào tạo ra các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực cung cấp và phân tích dữ liệu nhằm đưa ra các bằng chứng khoa học phục vụ cho quá trình ra quyết định ở cấp doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khoa cũng không ngừng tăng cường trao đổi hợp tác với các trường đại học ở Mỹ, Úc và tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc tế và quốc gia để nâng cao chất lượng giảng dạy.

Thời gian gần đây, chương trình đào tạo và nội dung môn học của khoa đã có những thay đổi đáng kể. Một số môn học mới đã dần tiếp cận với chuẩn mực quốc tế và đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội như: Thống kê trong nghiên cứu thị trường; Những nguyên lý cơ bản của khai thác dữ liệu; Điều tra xã hội học, Phân tích dữ liệu kinh tế - xã hội, Phân tích đa biến...

Quá trình đổi mới này đã giúp cho sinh viên nắm bắt và được trang bị những kiến thức hiện đại, những kỹ năng thu thập, tổng hợp và phân tích các dữ liệu tốt hơn.

Để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, gần đây nhiều doanh nghiệp đã tìm đến khoa để được tư vấn và phối hợp liên kết đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: VNPT; Petro Việt Nam; Vietnam Airline... Đây là một động thái tích cực và là nhu cầu thực tế. Hy vọng rằng, các doanh nghiệp Việt Nam, dù lớn hay nhỏ cũng không nên bỏ qua động thái này.