Trong Thơ Nôm truyền tụng nhiều chục năm nay được coi là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822) có một số bài liên quan đến Chiêu Hổ.

Trong Thơ Nôm truyền tụng nhiều chục năm nay được coi là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822) có một số bài liên quan đến Chiêu Hổ. Tập Thơ Hồ Xuân Hương, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2008, có 2 bài, xin được dẫn 2 bài như sau:

TRÁCH CHIÊU HỔ (I)

Anh đồ tỉnh, anh đồ say

Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay

Chiêu Hổ họa lại:

Này ông tỉnh, này ông say

Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Hang hùm ví bẵng không ai mó

Sao có hùm con bế chốc tay...

TRÁCH CHIÊU HỔ (II)

Sao nói rằng năm lại có ba

Trách người quân tử hẹn sai ra

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt

Nhớ hái cho xin nắm lá đa…

Chiêu Hổ họa lại

Rằng gián là năm, quí có ba

Bởi người thục nữ tính không ra

Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa…

Cũng từ nhiều chục năm nay, nhiều người cho rằng Chiêu Hổ trong Thơ Nôm truyền tụng này là Phạm Đình Hổ (1768-1839). Theo tôi, điều này hoàn toàn ngã ngũ được. Chiêu Hổ hoàn toàn không phải là Phạm Đình Hổ.

Chieu Ho trong Tho Nom truyen tung Ho Xuan Huong khong phai la Pham Dinh Ho - Anh 1

Theo nhà thơ Trần Nhuận Minh: Hồ Xuân Hương cũng như Chiêu Hổ trong Thơ Nôm truyền tụng, chỉ là nhân vật hư cấu của văn học dân gian.

Phạm Đình Hổ người làng Đan Loan nay thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, nhưng bản thân ông chỉ đỗ tú tài. Biết ông là người tài xứ Bắc, trong dịp ra Hà Nội, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cho mời ông lên gặp và chỉ sau ít phút tiếp kiến, đã đặc cách phong ông làm Tế Tửu Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội, tức Hiệu trưởng trường, chức này chỉ dành cho các tiến sĩ uyên bác hơn người. Xin nhớ rằng, tài giỏi như Chu An, thời Trần, cũng chỉ là Tư nghiệp, tức Hiệu phó, để thấy sự liên tài của vua Minh Mạng và cái thoáng, rất trọng thực tài, trong quan chế của nhà Nguyễn.

Phạm Đình Hổ có nhiều trước tác, nhưng nổi tiếng nhất là Vũ trung tùy bút. Đây là tác phẩm duy nhất Phạm Đình Hổ nói về mình, cho thấy ông là một người “trầm lặng, mực thước, khắc khổ, nhạt nhẽo”, đặc biệt, ông “rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc và những chuyện rủ rê chơi đùa”. Hễ thấy ai nói đến điều đó thì ông “bịt tai lại, không nghe” - lời Phạm Đình Hổ - thì không thể có chuyện ông (quan Tế Tửu - Hiệu trưởng - Quốc Tử Giám Thăng Long, Hà Nội ) là tác giả của các bài thơ trên, lại “ghẹo nguyệt giữa ban ngày”, cho Hồ Xuân Hương, “cho cả cành đa lẫn củ đa”, và chửi đời rất sảng khoái theo kiểu lưu manh: Rày thì đù mẹ cái hồng nhan... Hơn nữa, Bộ luật Gia Long của thời Nguyễn ghi: “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60 trượng”, nghĩa là giải ra công đường, lột mũ áo, đánh cho 60 gậy rồi đuổi về vườn. Vì vậy Phạm Đình Hổ không thể là tác giả của những câu thơ trên.

Và Hồ Xuân Hương, một nhà thơ “đúng phép mà văn hoa”, bao giờ cũng biết “dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa” (tựa thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký - khắc in năm 1814 ), cũng không thể là tác giả của những bài thơ trên .

Do đó, Hồ Xuân Hương cũng như Chiêu Hổ trong Thơ Nôm truyền tụng, chỉ là nhân vật hư cấu của văn học dân gian, Hồ Xuân Hương trong Thơ Nôm truyền tụng, không phải là Hồ Xuân Hương, nhà thơ có tên tuổi, người làng Quỳnh Đôi và Chiêu Hổ cũng hoàn toàn không phải Phạm Đình Hổ.

Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH