BLTTHS năm 2015 đã có những quy định bổ sung một số quyền và cơ chế bảo đảm cho người bào chữa thực hiện tốt các quyền luật định.

Bổ sung quyền của người bào chữa

Khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định bổ sung một số quyền của người bào chữa, gồm: Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt; Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thay vì chỉ được hỏi khi cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý như hiện nay; Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; Thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; Đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Đề nghị tiến hành một số hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS, đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

So với quy định tại BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 quy định phân biệt rõ hai trường hợp người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như sau:

Bo luat To tung hinh su 2015: Co che bao dam thuc hien quyen cua nguoi bao chua - Anh 1

Luật sư tham gia bào chữa tại phiên tòa

Trường hợp thứ nhất: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015 thì cuộc gặp, hỏi giữa người bào chữa với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là do người bào chữa chủ động tiến hành trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào và không hạn chế số lần, thời gian gặp; được hỏi, trao đổi hoàn toàn riêng tư với người bị buộc tội trong điều kiện giám sát của cơ sở giam giữ mà không bắt buộc phải có mặt những người tiến hành tố tụng.

Trường hợp thứ hai: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73 của Bộ luật này, cuộc gặp do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên chủ động tiến hành, theo kế hoạch đã chuẩn bị trước nhằm lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can với sự có mặt của người bào chữa. Để bảo đảm người bào chữa thực hiện được quyền của mình, theo quy định tại khoản 1 Điều 79 BLTTHS năm 2015: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hanh hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này.”.

Tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa

Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can nếu Điều tra viên đồng ý cho người bào chữa được hỏi người bị tạm giữ, bị can thì phải ghi câu hỏi của người bào chữa, câu trả lời của người bị tạm giữ, bị can vào trong biên bản lấy lời khai người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bị can. Khi kết thúc việc lấy lời khai, hỏi cung, Điều tra viên phải đọc lại hoặc đưa cho người bào chữa đọc lại biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, sau khi xác nhận đúng nội dung câu hỏi, trả lời thì yêu cầu người bào chữa ký vào biên bản. Trường hợp biên bản ghi chưa đầy đủ, chưa chính xác nội dung câu hỏi và trả lời, người bào chữa có quyền đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến của mình trước khi ký vào biên bản.

Trong cuộc gặp này, người bào chữa chỉ được hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can khi người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.

Theo quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015, để chuẩn bị cho cuộc gặp này, người bào chữa được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quy định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa.

Như vậy, nếu so sánh quy định tại khoản 1 Điều 79 BLTTHS năm 2015 với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003, có thể thấy: Để có thể thực hiện được quyền của người bào chữa, thay vì họ phải có nghĩa vụ đề nghị Cơ quan Điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can, thì nay nhà làm luật đã chuyển nghĩa vụ đó sang cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý…. Nhưng thế nào là một thời gian hợp lý cần báo trước?

Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an, quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Điều tra viên phải thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can cho người bào chữa trước 24 giờ, trường hợp người bào chữa ở xa có thể thông báo trước 48 giờ, trường hợp không thể trì hoãn được việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can thì Điều tra viên tiến hành lấy lời khai, hỏi cung và sau đó phải thông báo cho người nào chữa biết.

Cần quy định cụ thể

Nếu như tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định người bào chữa được quyền có mặt trong những hoạt động điều tra khác, thì điểm c khoản 1 Điều 73 của BLTTHS năm 2015 quy định nội dung trên theo hướng chi tiết hơn, mà theo đó, người bào chữa được quyền có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này.

Điều 201 BLTTHS năm 2015 về hoạt động khám nghiệm hiện trường, quy định: Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.”. Điều 204 BLTTHS năm 2015 quy định về hoạt động thực nghiệm điều tra, theo đó, tại khoản 3 của Điều này quy định: Khi tiến hành thực nghiệm điều tra…Trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng có thể tham gia.”. Với quy định như vậy cho thấy, quyền này của người bào chữa chưa được khẳng định rõ khi sử dụng các cụm từ có thể”; “có thể cho”; “cần thiết”. Điều đó cho thấy đã có sự mâu thuẫn ngay trong nội tại các quy định BLTTHS năm 2015. Trong khi đó, tại Điều 4 của Bộ luật này cũng không có sự giải thích thuật ngữ trường hợp cần thiết”; “có thể được hiểu như thế nào cho đúng.

Một quy định đáng chú ý khác là quy định tại điểm g khoản 1 Điều 73 của Bộ luật này về quyền đề nghị triệu tập người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bào chữa. Thực tiễn hiện nay, ngoại trừ một số vụ án liên quan đến hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, việc triệu tập Điều tra viên để làm rõ các vấn đề liên quan việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, các dấu hiệu khác như bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ… gần như không được pháp luật tố tụng hình sự quy định và cũng không được tiến hành trên thực tế. Theo quy định tại Điều 296 BLTTHS năm 2015, trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa.

Với trường hợp, người bào chữa đề nghị Tòa án triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề có liên quan đến vụ án, mà nếu như đề nghị này không được Hội đồng xét xử không chấp nhận vì cho rằng xét thấy không cần thiết thì giải quyết như thế nào, cũng cần được quy định rõ.

Phương Nam