Những bất cập, vướng mắc về công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) qua kết quả khảo sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM tại Cục Hải quan TP.HCM đã được báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 này.

Bat cap kiem tra chuyen nganh duoc bao cao Quoc hoi - Anh 1

Công chức Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư- Cục Hải quan TP.HCM tư vấn hỗ trợ DN. Ảnh: T.H.

Chuẩn bị nội dung cho kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM đã có buổi làm việc với Cục Hải quan TP.HCM, các cơ quan quản lý nhà nước, DN để nghe báo cáo các vướng mắc, kiến nghị trong hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK…

Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đạt được của Cục Hải quan TP.HCM trong thời gian qua, đặc biệt là công tác KTCN đối với hàng hóa XNK.

Để tạo thuận lợi cho DN trong hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK, Cục Hải quan TP.HCM đã chủ động kí kết quy chế phối hợp với các cơ quan KTCN, DN kinh doanh cảng; triển khai địa điểm KTCN tập trung tại các cửa khẩu lớn; triển khai cổng thông tin KTCN tại các cửa khẩu để thực hiện nhanh các kết nối giữa các đơn vị KTCN…

Theo Hải quan TP.HCM, phần lớn các quy định về KTCN vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc, gây khó khăn, tốn kém cho DN. Cụ thể, thủ tục thực hiện trước khi được KTCN rất phức tạp. Trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, trước khi thực hiện kiểm tra lô hàng, mỗi DN phải làm công bố, hợp chuẩn, hợp quy mất thời gian khoảng 2-3 tháng cho mỗi nhóm mặt hàng. Bên cạnh đó, chi phí cho việc công bố hợp chuẩn, hợp quy rất lớn, khoảng 5 triệu đồng/mẫu, một tháng 100 mẫu, DN mất khoảng 500 triệu đồng cho việc công bố hợp chuẩn, hợp quy. Ngoài ra, danh mục các mặt hàng phải KTCN trước khi thông quan quá nhiều, chiếm khoảng 30-35% hàng hóa NK hiện nay và có nhiều mặt hàng trùng lắp phải qua kiểm tra của nhiều cơ quan KTCN khi NK. Không chỉ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, trong lĩnh vực dán nhãn năng lượng cũng rất nhiêu khê, thời gian tối thiểu mất 3 tháng, thông thường phải mất 6 tháng…

Theo phân tích của Cục Hải quan TP.HCM, quy định về KTCN hiện nay đối với hàng hóa XNK thật sự gây khó khăn về thủ tục giấy tờ, kéo dài thời gian thông quan hàng hóa, trình tự thủ tục giữa các cơ quan có liên quan và trở thành gánh nặng chi phí cho DN. Danh mục mặt hàng bắt buộc phải qua KTCN trước khi thông quan quá nhiều, chiếm khoảng 30-35% hàng hóa NK hiện nay và có nhiều mặt hàng trùng lắp phải qua kiểm tra của nhiều cơ quan KTCN khi NK. Tỷ lệ hàng hóa phải KTCN khá cao, năm 2015, có gần 390.000 tờ khai phải KTCN, chiếm trên 36%; từ năm 2016 đến nay, lượng tờ khai phải KTCN chiếm gần 40% tổng số tờ khai hải quan phát sinh, trong khi đó, tỷ lệ tờ khai phát hiện vi phạm rất thấp, chưa đến 0,01% trên tổng số tờ khai phải KTCN. Kết quả này cho thấy quy định về KTCN hiện nay không hiệu quả và hiệu lực. Chi phí mà DN phải bỏ ra để trả cho các cơ quan KTCN là rất lớn và trở thành gánh nặng cho DN, nhưng lớn hơn gấp nhiều lần đó là thời gian thông quan bị kéo dài, DN không thể đưa hàng hóa vào sản xuất, kinh doanh kịp thời làm giảm sức cạnh tranh, mất đi cơ hội của DN.

Mặt khác, quy định KTCN hiện nay đã ảnh hưởng rất nhiều đến những nỗ lực cố gắng của ngành Hải quan trong việc cải cách thủ tục thông quan. Việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và sử dụng Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS đã tạo một bước ngoặt trong quản lý hải quan, phù hợp với quản lý của Hải quan thế giới và đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta hiện nay…

Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đạt được của Cục Hải quan TP.HCM trong thời gian qua, trong đó công tác KTCN đối với hàng hóa XNK. Qua thực tế KTCN cho thấy những nỗ lực cố gắng trong việc thực hiện nhiều giải pháp cải cách hành chính và hiện đại hóa trong hoạt động của ngành Hải quan đã có nhiều chuyển biến tích cực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của KTCN, giúp cho việc thông quan hàng hóa nhanh hơn. Tuy nhiên, những nỗ lực cố gắng của Cục Hải quan TP.HCM và một số cơ quan, tổ chức có liên quan cũng chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề. Phần gốc của vấn đề - những khó khăn, vướng mắc trong việc KTCN đối với hàng hóa XNK hiện nay vẫn cần được các cơ quan có thẩm quyền quyết liệt giải quyết.

Lê Thu