Cấp 250 hóa đơn khống bán lẻ với tổng doanh số trên 23,6 tỷ đồng cho 80 đơn vị trong và ngoài tỉnh Phú Thọ, 4 cán bộ thuế đã bị CQĐT khởi tố và bắt tạm giam.

Tin tức trên báo An ninh Thủ đô cho biết, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Phú Thọ vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với 4 bị can, nguyên là cán bộ thuế về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ”.

Các đối tượng gồm: Nguyễn Văn Hùng (52 tuổi, trú tại thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập) nguyên là Đội trưởng đội thuế liên xã thị trấn Yên lập; Vũ Đình Thành (54 tuổi, trú tại phường Dữu Lâu, TP Việt Trì), nguyên Đội trưởng đội thuế liên xã Lương Sơn, Chi cục thuế huyện Yên Lập; Nguyễn Thanh (50 tuổi, trú tại thị trấn Yên Lập), nguyên Đội trưởng đội thuế liên xã Hưng Long, Chi cục thuế huyện Yên Lập và Đỗ Thị Sơn Lương (43 tuổi, trú tại thị trấn Sông Thao), nguyên Phó đội trưởng đội hành chính, nhân sự, tài vụ, ấn chỉ, Chi cục thuế huyện Cẩm Khê.

CQĐT cáo buộc 4 cán bộ thuế đã cấp 250 hóa đơn khống bán lẻ với tổng doanh số trên 23,6 tỷ đồng cho 80 đơn vị trong và ngoài tỉnh Phú Thọ .

4 can bo thue cap khong hoa don voi doanh so tren 23 ty dong - Anh 1

Ảnh minh họa.

Báo Dân trí đưa tin, trước đó, Phòng PC46 Công an tỉnh Phú Thọ điều tra về việc phát hóa đơn khống cho các doanh nghiệp sử dụng làm chứng từ kê khai trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và quyết toán khống tiền ngân sách Nhà nước với doanh số rất lớn xảy ra tại Chi cục thuế huyện Yên Lập và Chi cục thuế huyện Cẩm Khê.

Tài liệu cua CQĐT cho thấy, từ năm 2013 - 2015, Chi cục thuế huyện Yên Lập và Chi cục thuế huyện Cẩm Khê đã cấp hóa đơn bán hàng cho các doanh nghiệp với doanh số trên 100 tỷ đồng.

Đáng nói, 3 đội thuế liên xã thuộc Chi cục thuế huyện Yên Lập và Đội hành chính, nhân sự, ấn chỉ thuộc Chi cục thuế huyện Cẩm Khê đã cấp khống 250 hóa đơn bán lẻ với tổng doanh số hơn 23 tỷ đồng cho 80 đơn vị trong và ngoài tỉnh.

Hiện,vụ việc đang được CQĐT tiếp tục làm rõ.

Theo quy định Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của pháp luật bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận như sau:

1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế gian lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên khi có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 Luật quản lý thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật quản lý thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 9 Thông tư này và Khoản 9 Điều này.

b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hóa đơn, chứng từ; hóa đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

c) Lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa hoặc giảm số lượng, giá trị vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.

d) Lập hóa đơn sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tế.

đ) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không kê khai, kê khai sai, không trung thực làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm.

e) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế.

g) Sử dụng hàng hóa được miễn thuế, xét miễn thuế (bao gồm cả không chịu thuế) không đúng với mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế.

h) Sửa chữa, tẩy xóa chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

i) Hủy bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

k) Sử dụng hóa đơn, chứng từ, tài liệu không hợp pháp trong các trường hợp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế phát sinh số thuế trốn, số thuế gian lận.

l) Người nộp thuế đang trong thời gian xin tạm ngừng kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh.

m) Hàng hóa vận chuyển trên đường không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.

BẢO KHÁNH (Tổng hợp)

Xem thêm video:

Nguồn: tinnhanhonline.vn

Đọc báo Pháp luật Đời Sống trong ngày cập nhật liên tục từng giờ tại chuyên mục Pháp Luật