SGTT.VN - Khái niệm luật kinh tế công chưa được chú trọng ở Việt Nam. Các nội dung của nó đôi khi còn bị bỏ trống khá nhiều (pháp luật về tiêu chuẩn, định chuẩn), mới bắt đầu được thảo luận (pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm) hoặc tuy đã xây dựng được pháp luật, song thể chế thực thi chưa đồng bộ và chưa đủ khả năng, quyết tâm thi hành (ví dụ trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường). Đang có mâu thuẫn giữa chính sách ưu tiên phát triển và bảo vệ môi trường khiến hành vi hủy hoại môi trường chưa bị nghiêm trị, sự bức bách phải bảo quản và sử dụng hiệu quả tài nguyên công cộng chưa được nhận thức đúng.

LTS: Tiếp theo nội dung kỳ trước, Sài Gòn Tiếp Thị xin lược giới thiệu phần Xây dựng pháp luật bảo vệ lợi ích công trong nghiên cứu “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo yêu cầu của Nghị quyết 48/NQ-TW” Bài 1: Sắp xếp lại quản trị quốc gia Bài 2: Xác lập sở hữu quốc gia và của chính quyền địa phương Bài 3: Dỡ “rào cản” sở hữu đất đai Bài 4: Bảo vệ quyền sở hữu đối với tài nguyên, khoáng sản Bài 5: Làm rõ mục tiêu sở hữu doanh nghiệp nhà nước Tình trạng này một phần bởi những thay đổi đáng kể trong nền kinh tế mới đang dần dần kéo theo các thay đổi trong chức năng của nhà nước. Thời bao cấp, không hề có sự phân biệt luật kinh tế công và luật kinh tế tư, bởi nhà nước tổ chức sản xuất, định giá, định chuẩn, ấn định phúc lợi. Nhưng nay, với 40 vạn doanh nghiệp và hàng triệu hộ kinh doanh cạnh tranh trong một nền kinh tế tương thông với thị trường toàn cầu, các chức năng của nhà nước buộc phải thay đổi từ một nhà nước chỉ huy toàn trị, sang một nhà nước can thiệp và điều tiết thị trường. Những chức năng điều tiết của nhà nước đặc biệt trở nên quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người dân, đặc biệt được thể hiện trong những lĩnh vực sau: Thứ nhất, xác định tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành và tổ chức giám sát tuân thủ cho những hàng hóa, dịch vụ được lưu hành trên thị trường. Ví dụ, tiêu chuẩn đối với ngành xây dựng (chất lượng căn hộ chung cư, tranh chấp quyền sử dụng các tiện ích liên quan đến chung cư), tiêu chuẩn đối với các dịch vụ hạ tầng cơ bản (điện, nước, xăng, gas), tiêu chuẩn đối với an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), dược phẩm, quần áo và đồ dùng nhu yếu phẩm thiết yếu khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân; Thứ hai, tổ chức giáo dục, kiểm tra, ngăn chặn, trừng phạt nghiêm khắc các hành vi kinh doanh gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng, tính mạng và tài sản của người dân; Chất lượng căn hộ chung cư phải thuộc chức năng diều tiết của nhà nước, qua việc xác định tiêu chuẩn quốc gia về xây dựng. Ảnh: L.H.T Thứ ba, xây dựng pháp luật và các thiết chế bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nhất là trước các hành vi vi phạm pháp luật của các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và trước hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường của các nhà cung cấp. Thứ tư, xây dựng pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật nhằm bảo vệ môi trường sống, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thứ năm, theo một nghĩa rộng hơn, nhằm giảm bớt bất công và bảo vệ nhân phẩm của người nghèo và những nhóm yếu thế trong xã hội, nhà nước phải thực thi các chính sách phân chia phúc lợi và bảo đảm an sinh xã hội. Do khả năng có hạn, nhà nước chỉ có thể thực hiện được các chức năng đảm bảo lợi ích quốc gia, đảm bảo trật tự công, điều chỉnh phúc lợi và bảo vệ quyền của người dân được sống khỏe, an toàn, trong môi trường trong sạch, nếu nhà nước thu hẹp phạm vi can thiệp, nhường bước dần cho khu vực kinh tế tư nhân và thực hiện một cách hiệu quả hơn các chức năng đảm bảo trật tự công cộng như bàn luận ở trên. Xu hướng cải cách chính được mô tả như sau: Nếu nhìn vào sơ đồ này có thể thấy với những chủ trương xã hội hóa, cổ phần hóa, nhà nước và nhân dân cùng làm, tăng quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, phân quyền tự chủ cho cơ sở (trường học, bệnh viện, cơ quan báo chí..), Việt Nam đang cố gắng thu hẹp lĩnh vực can thiệp của nhà nước, tạo tiền đề thực hiện chức năng điều tiết đảm bảo trật tự công. Mặc dù đầu tư công vẫn quá lớn và những nỗ lực duy trì doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn choáng phần đáng kể năng lực của các cơ quan chủ quản, song nguồn lực vật chất và con người nhằm chuyển sang các chức năng điều tiết mới của nhà nước đã bắt đầu xuất hiện. Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ban hành năm 2006. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 6.000 chuẩn đang có hiệu lực, 20% đã hài hóa quốc tế. Về thể chế, Tổng cục đo lường Tiêu chuẩn chất lượng thuộc Bộ Khoa học công nghệ (KHCN) và các chi cục thuộc sở KHCN nhiều tỉnh đã được thành lập. Hiện chưa rõ mối quan hệ giữa các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng với các cơ quan định chuẩn này, hoạt động lập quy cũng chưa được tổng kết, các số liệu có thể tiệm cận được từ trang Web công khai của ngành còn rất khiêm tốn. Có thể thấy, trong một thời gian khá dài định hướng nền kinh tế nhấn mạnh tới xuất khẩu, hàng hóa cần đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu (Nhật, Mỹ, EU), thị trường trong nước chưa được chú trọng, vì vậy các tiêu chuẩn cho hàng hóa trong nước chưa được quan tâm. Điều này đã bắt đầu thay đổi, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tiêu chuẩn và quy chuẩn trở thành những hàng rào kỹ thuật vừa bảo vệ sản xuất và tiêu dùng trong nước, vừa có thể sử dụng để điều tiết thương mại. Thêm nữa, nếu các hiệp hội nghề và hiệp hội doanh nghiệp phát triển tự nguyện, họ mới là những động lực gây sức ép xây dựng và ban hành quy chuẩn để bảo vệ sản phẩm của mình, chống lại những sản phẩm kém tiêu chuẩn. Luật an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ vừa mới ban hành, nhưng lại có ít nhất sáu cơ quan nhà nước cùng liên quan tới lĩnh vực này. Ảnh: Phan Quang Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân chỉ mới nêu ra các định hướng và nguyên tắc, thiếu nghiêm trọng các chế tài. Luật an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) chỉ vừa mới ban hành. Đáng lưu ý là có tới ít nhất sáu cơ quan nhà nước cùng liên quan tới lĩnh vực này. Có thể dễ nhận thấy trong số sáu cơ quan, chưa có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, nhân sự cũng hầu như chưa có. Mới có 20/63 tỉnh đã thành lập chi cục ATVSTP. Tính bình quân mỗi tỉnh mới có 0,5 người làm nghĩa vụ thanh tra ATVSTP. Đầu tư của nhà nước cho việc này trong các năm 2004-2007 là 500 đồng/người dân, năm 2008 tăng lên khoảng 880 đồng-1.100 đồng/người dân. Những con số này cho thấy bảo vệ ATVSTP mới chỉ dừng lại ở chủ trương, khẩu hiệu, phong trào, việc đầu tư cho xây dựng thể chế chưa được chú trọng. Việt Nam đang cố gắng thu hẹp lĩnh vực can thiệp của nhà nước qua việc phân quyền tự chủ cho cơ sở, như trong lĩnh vực y tế. Ảnh: Trần Việt Đức Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD).Dự thảo luật này đang được soạn thảo chi tiết và toàn diện, nhấn mạnh tới nhiều loại chế tài dân sự, hành chính và hình sự (phối hợp với Luật Cạnh tranh 2004 và Bộ luật hình sự 1999). Quyền cho người tiêu dùng dự kiến được tăng lên, kể cả trong tố tụng dân sự, song tư duy này dường như chưa được chấp nhận rộng rãi (nghĩa vụ chứng minh thiệt hại đảo ngược đang được tranh luận). Có thể nhận thấy những cố gắng rất lớn trong lập pháp, trong phổ biến, tuyên truyền pháp luật và sự tham gia của giới truyền thông cũng như hiệp hội đối với việc BVNTD, song dường như thiếu sự tham gia có hiệu quả của tòa án và các ngành tư pháp. Về lâu dài, BVNTD cần được thực hiện đồng bộ, từ nhận thức của người tiêu dùng, trách nhiệm của doanh nghiệp, sự lên án của báo chí và công luận, cho tới sự giám sát tuân thủ định chuẩn của nhà nước, sự thanh tra và trừng phạt nghiêm khắc của các thiết chế thực thi pháp luật. Trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật BVNTD cũng như lĩnh vực pháp luật ATVSTP, cần nhấn mạnh đây không thể là những lĩnh vực riêng rẽ, thành tựu ở những lĩnh vực này phụ thuộc vào quy trình định chuẩn, quyền tự do hiệp hội, vào sự minh bạch thông tin, vào hệ thống báo chí có trách nhiệm khi đưa tin và vào hệ thống tòa án độc lập, khách quan, không chịu sức ép từ khu vực hành chính và doanh nghiệp. Nếu thiếu chúng, từng người tiêu dùng nhỏ lẻ sẽ khó được bảo vệ. Sức mạnh của người tiêu dùng chủ yếu ở sức ép cộng đồng của họ và trách nhiệm của nhà nước. Muốn bảo vệ người tiêu dùng phải tập trung xây dựng các thể chế theo xu hướng này. Các hành vi của khu vực doanh nghiệp thuộc chủ thể có thể gây suy thoái và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ảnh: Lập biên bản hành vi xả thải trái phép của công ty Hào Dương (TP.HCM). Ảnh: TTXVN Luật bảo vệ môi trường được hướng dẫn thi hành tương đối chi tiết và đồng bộ. Cùng với việc bổ sung các chế tài hình sự, các chế tài hành chính cũng được hoàn thiện, tăng đáng kể. Các quy định liên quan đến phí môi trường được triển khai. Về mặt thể chế, ngoài hệ thống bộ Tài nguyên-môi trường (TNMT) và các sở TNMT, Cục, phòng Cảnh sát môi trường đã được thành lập. Có bốn nguồn chủ thể có thể gây suy thoái và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Thứ nhất, các quyết sách của nhà nước, nhất là các tỉnh sau khi được tản quyền. Thứ hai, các hành vi của khu vực doanh nghiệp. Thứ ba, hành vi tiêu dùng của con người. Thứ tư, các yếu tố ô nhiễm môi trường mang tính toàn cầu và khu vực, nhất là bởi các quyết định của doanh nghiệp và tổ chức nước ngoài. Bảo vệ môi trường có thể nhìn theo quá trình, từ phòng cho đến chống. Việc phòng phải bắt đầu từ quá trình quy hoạch, cấp phép sử dụng đất, khai thác tài nguyên, cấp phép cho các dự án đầu tư. Cùng với việc tản quyền theo Luật đầu tư 2005, dường như các tỉnh đã có rất nhiều quyền trong khai thác tài nguyên, sử dụng đất và cấp phép đầu tư. Quyền thì lớn mà trách nhiệm giải trình lại thấp. Tài nguyên khánh kiệt và môi trường bị hủy hoại nhanh, trước hết bởi cơ chế phòng vệ còn rất yếu. Xây dựng các định chuẩn, tiêu chuẩn, quy chuẩn, doanh nghiệp công ích, phi lợi nhuận, hạ tầng, an sinh, bảo vệ người tiêu dùng, phát triển bền vững.., nhằm cung cấp các dịch vụ tốt hơn trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường là những lĩnh vực được gọi là luật kinh tế công. Về cơ chế chống, các chế tài có thể bị hạn chế áp dụng bởi lãnh đạo các tỉnh chịu sức ép duy trì các con số tăng trưởng. Mức phạt và chế tài hình sự cần được cải thiện nhằm tăng tính răn đe. Du nhập trách nhiệm hình sự của pháp nhân và tăng mức phạt, đủ nhạy cảm về lợi ích kinh tế là hướng đi đang được thảo luận. Hệ thống dây cáp quang, dây điện, đường ray, ống thoát ngầm... cần được quy định là độc quyền tự nhiên, giao cho một tổ chức khai thác thống nhất dưới sự giám sát của nhà nước. Ảnh: SGTT Năm 2004 Luật Cạnh tranh đã được ban hành, Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh đã được thành lập, bộ máy và nhân sự đã bắt đầu hình thành. Tuy nhiên, do mới đang trong quá trình vận hành thử, sự can thiệp một cách đáng kể của những thể chế này vào chính sách cạnh tranh ở Việt Nam, nhất là trong việc điều tiết các độc quyền tự nhiên, là chưa thể mong đợi. Khi nền kinh tế phát triển nhanh, các tài nguồn tài nguyên nhanh chóng trở nên có giá. Các xung đột về lợi ích liên quan đến hệ thống cột tải điện, ống thoát ngầm, tài nguyên lòng đất, khai thác cầu, vỉa hè, lòng đường; sử dụng và khai thác các kênh truyền thanh truyền hình, tài nguyên sóng, tài nguyên số… đã xuất hiện. Cũng như vậy các nguồn tài nguyên lớn như hầm mỏ, bờ biển, công viên, khu vực công cộng đã có nguy cơ rơi vào tay những chủ tư nhân nhanh chóng. Chúng là của công nhưng được khai thác và hưởng dụng vì lợi ích tư hoặc các lợi ích nhóm. Dường như nhu cầu kiểm soát và sử dụng các nguồn tài nguyên công cộng này chưa được nhận biết, pháp luật điều chỉnh sự chiếm dụng và khai thác hưởng lợi chúng chưa được rõ ràng. Ngoài ra cần xác định một số lĩnh vực cần được quy định là độc quyền tự nhiên, ví dụ hệ thống dây cáp quang, dây điện, đường ray, ống thoát ngầm. Những tài sản này có thể được khai thác hiệu quả hơn nếu chúng thuộc độc quyền tự nhiên, giao cho một tổ chức khai thác thống nhất dưới sự giám sát của nhà nước. Buông lỏng quản lý, cho phép các đơn vị khai thác các tài nguyên này trong cạnh tranh tùy tiện có thể là một xu hướng cần chấm dứt. Nhà nước phải can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thông tin bất cân xứng, bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch, hạn chế khuyết tật của thị trường thông qua định chuẩn, thanh kiểm tra và thực thi chế tài. Cần từng bước nâng đỡ các hiệp hội, giúp họ đại diện lợi ích của những nhóm yếu thế trong cạnh tranh, khi đã đủ mạnh, nhà nước có thể trao dần cho họ những quyền lực tham gia định chuẩn và bảo vệ lợi ích của hội viên. Nên ban hành pháp luật xác lập sở hữu công cộng và quy định cách sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên công cộng. Nhà nước phải can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thông tin bất cân xứng, bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch, hạn chế khuyết tật của thị trường thông qua định chuẩn, thanh kiểm tra và thực thi chế tài. Cần từng bước nâng đỡ các hiệp hội, giúp họ đại diện lợi ích của những nhóm yếu thế trong cạnh tranh, khi đã đủ mạnh, nhà nước có thể trao dần cho họ những quyền lực tham gia định chuẩn và bảo vệ lợi ích của hội viên. Nên ban hành pháp luật xác lập sở hữu công cộng và quy định cách sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên công cộng.