(ĐCSVN) - Trong số ra gần đây, Tạp chí Thế giới đương đại của Trung Quốc đã đăng bài viết nghiên cứu về nông nghiệp và chính sách phát triển nông nghiệp của Việt Nam. Sau đây là nội dung bài viết.

Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp – nông thôn – nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xã hội Việt Nam. Từ khi đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. “Ba bước” đổi mới chính sách đất đai ở nông thôn Việt Nam Quá trình đổi mới chính sách đất đai ở nông thôn Việt Nam lấy sở hữu toàn dân về đất đai làm tiền đề, lấy chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình ở nông thôn làm khâu đột phá. Thông qua giao quyền sử dụng đất cho nông dân, xác nhận bằng hình thức luật pháp quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị kinh tế chủ thể của nông dân, Việt Nam đã từng bước thương mại hóa đất đai và quy mô hóa việc kinh doanh đất đai. Quá trình này nhìn chung trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn I: chuyển từ chế độ tập thể hóa nông nghiệp sang chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình trong những năm 80 thế kỷ XX. Trước những năm 80 thế kỷ XX, miền Bắc Việt Nam thực hiện chế độ tập thể hóa nông nghiệp, ngoài cho phép các hộ nông dân giữ lại 5% ruộng (ruộng phần trăm), toàn bộ phần đất còn lại thực hiện sản xuất tập thể. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chế độ tư hữu đất đai ở miền Nam bắt đầu được cải tạo, nhưng vẫn chưa triệt để. Năm 1980, Việt Nam sửa đổi hiến pháp, thực hiện quốc hữu hóa đất dai, đẩy mạnh toàn diện tập thể hóa nông nghiệp, nông dân không được tự kinh doanh, thiếu tính tích cực trong sản xuất, dẫn tới tình trạng cung cấp lương thực căng thẳng, đâu đâu cũng thấy dân oán thán. Để tránh mâu thuẫn trong kế hoạch, đầu năm 1981, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị số 100, quyết định trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp giao đất cho từng đội sản xuất, tổ sản xuất và bản thân người lao động sử dụng với điều kiện nông dân cần phải nộp một phần sản phẩm. Đây là bước mở đầu để Việt Nam thực hiện chính sách khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình. Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã quyết định đổi mới toàn diện, từng bước đẩy mạnh đổi mới các chính sách về nông nghiệp, nông thôn. Năm 1987, Quốc hội Việt Nam xem xét thông qua “Luật đất đai” đầu tiên, quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, cấm mua bán dưới mọi hình thức, nhưng cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 10 về “Đổi mới quản lý nông nghiệp”, quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình trong cả nước, cho phép nông dân tự kinh doanh, quyền sử dụng đất từ 2 năm trước đây kéo dài đến 15 năm. Giai đoạn II: bắt đầu từ những năm 90 thế kỷ XX, từng bước xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai lấy “5 quyền” làm trung tâm. Tháng 6/1993, Hội nghị toàn thể trung ương 5 khóa 7 Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ phải để nông dân có “5 quyền” là: quyền trao đổi, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền thừa kế, quyền thế chấp đất đai. Tháng 7/1993, Quốc hội Việt Nam công bố bộ “Luật đất đai” thứ hai, xác nhận bằng hình thức pháp luật quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất canh tác nông nghiệp dùng để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày và đất nuôi trồng thủy sản là 20 năm, thời hạn sử dụng dùng trong kinh doanh cây nông nghiệp dài ngày là 50 năm, nông dân sử dụng đất theo pháp luật, sau khi hết hạn có thể được gia hạn thêm; quyền sử dụng đất có thể được kế thừa, cũng có thể trao đổi hoặc dùng làm thế chấp, trong một số tình huống nào đó còn có thể cho thuê và chuyển nhượng, thời gian cho thuê và chuyển nhượng nhiều nhất là 3 năm. Dựa theo luật này, Việt Nam đã xây dựng chế độ cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chính quyền các huyện thống nhất ban hành, giấy chứng nhận do Chủ tịch huyện ký tên là văn bản pháp luật duy nhất giao quyền sử dụng đất cho nông dân, những thay đổi về quyền sử dụng đất phải đăng ký. Đến cuối thế kỷ XX, ngoài số đất địa phương tạm thời giữ lại do nhu cầu chung, 94% đất nông thôn Việt Nam đã được phân phối đến các hộ nông dân, trên 90% số hộ đã nhận được giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Sau đó, Việt Nam lần lượt sửa đổi, bổ sung “Luật đất đai” vào năm 1998 và năm 2001, công bố bộ “Luật đất đai” thứ 3 vào năm 2003, thời hạn sử dụng đất kéo dài nhất tới 70 năm, xác định rõ nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất, có những quy định tỉ mỉ đối với việc phê duyệt, cho thuê, chuyển nhượng, đấu giá quyền sử dụng đất. Giai đoạn II: Thúc đẩy thê một bước thương mại hóa quyền sử dụng đất và quy mô hóa kinh doanh đất đai trên cơ sở xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai hoàn chỉnh. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001 đề xuất xây dựng và phát triển thị trường bất động sản bao gồm cả buôn bán giao dịch quyền sử dụng đất. Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2006 lại tiến thêm một bước nêu rõ muốn đảm bảo chuyển hóa thuận lợi quyền sử dụng đất thành hàng hóa, làm cho đất đai thật sự trở thành vốn phát triển, yêu cầu phải sớm giải quyết hiện trạng đất canh tác của các hộ nông dân nhỏ lẻ phân tán, khuyến khích trao đổi đất canh tác tập trung, dùng cho thuê hoặc góp cổ phần bằng đất đai. Hội nghị toàn thể trung ương 7 khóa 10 Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7/2008 thông nghị quyết riêng về vấn đề “tam nông”, nêu rõ trên cơ sở tiếp tục kiên trì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch, hoàn thiện công tác sửa đổi, bổ sung luật đất đai, phân phối và sử dụng đất hiệu quả hơn. Các gia đình và cá nhân được sở hữu đất ổn định lâu dài, nới lỏng kỳ hạn sử dụng đất, xây dựng cơ chế vận hành của thị trường về quyền sử dụng đất công khai, minh bạch, thúc đẩy công tác dịch chuyển và tập trung đất đai để người sở hữu đất có thể đầu tư vào các công ty và doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất như là tài sản. Đổi mới chính sách đất đai trở thành cơ sở và khâu then chốt trong đổi mới nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam Chính sách phân phối đất đai cho nông dân sử dụng lâu dài đã giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát huy mạnh mẽ tính tích cực của nông dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Từ một nước nhập khẩu lương thực trước khi đổi mới, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thế giới, địa vị cơ sở của nông nghiệp được củng cố, trình độ phát triển kinh tế ở nông thôn được nâng lên nhiều, đời sống khó khăn của người nông dân bấy lâu được cải thiện rõ rệt, điều này đã có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh xã hội, củng cố vững chắc cơ sở chính quyền, nâng cao khả năng phòng tránh rủi ro của cả nền kinh tế quốc dân. Đất đai có được trong quá trình đổi mới chính sách đã trở thành vốn ban đầu để người nông dân thoát nghèo đi lên giàu có, ngoài chuyên tâm trồng cấy để có thu hoạch, nông dân còn có thể tăng thêm thu nhập vào tài sản bằng các phương thức cho thuê, chuyển nhượng, kế thừa và thế chấp đất. Địa vị kinh tế xã hội, phương thức sản xuất, sinh hoạt, thậm chí cả cách tư duy của nông dân Việt Nam từ đó đã có những thay đổi to lớn. Điều quan trọng hơn là việc xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai đã đặt nền móng chế độ cho nông nghiệp Việt Nam phát triển trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa. Trước hết đã thúc đẩy chuyển đổi yếu tố sản xuất nông nghiệp. Việc cho phép giao dịch đất đai đã khiến thị trường này ra đời và trở nên sôi động, có ảnh hưởng sâu sắc đối với việc phát triển kinh tế thị trường và tiến trình đô thị hóa. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã thúc đẩy chuyển dịch sức lao động ở nông thôn, một số nông dân sau khi chuyển nhượng hoặc cho thuê đất đã chuyển sang làm trong ngành nghề thứ hai hoặc thứ ba, ngành công nghiệp xây dựng hoặc dịch vụ thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển đa dạng. Ngoài ra còn có rất nhiều nông dân tới các thành phố tìm việc làm, cung cấp sức lao động dồi dào cho tiến trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Hai là, thúc đẩy phát triển thị trường tín dụng ở nông thôn. Thông qua các cơ cấu tài chính ở nông thôn cung cấp cho nông dân những khoản vay ưu đãi là biện pháp quan trọng để Việt Nam thực hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo. Vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chủ yếu là các khoản tiền nhỏ, dưới 10 triệu đồng thì không cần thế chấp; nếu cần xin vay khoản lớn hơn, có thể thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu đất. Thế chấp đất trở thành nguồn đảm bảo quan trọng khiến thị trường tín dụng ở nông thôn Việt Nam phát triển tương đối mạnh, đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng đỡ người nghèo và phát triển nông thôn. Ba là, thúc đẩy hoạt động quy mô hóa nông nghiệp. Chính phủ Việt Nam khuyến khích và hỗ trợ nông dân thông qua biện pháp trao đổi đất đai với nhau để giải quyết vấn đề đất đai quá phân tán do chế độ khoán sản mang lại, thông qua các phương thức chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất hợp pháp đã chấn chỉnh, dồn dịch nguồn tài nguyên đất, thực hiện liên kết và liên doanh. Trong bối cảnh đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình mới “kinh tế trang trại” đã ra đời vào những năm 90 thế kỷ XX. Chủ trang trại áp dụng phương thức liên doanh với người thầu khoán đất hoặc mua quyền sử dụng đất của nông dân và nhận thầu đất hoang đồi núi trọc, thực hiện kinh doanh trên nhiều mảnh đất, thuê nhân công với số lượng khác nhau, đưa sản phẩm trực tiếp ra thị trường. Đặc điểm chủ yếu của mô hình này là đã phá vỡ khuôn khổ kinh tế tiểu nông, mức độ thâm canh tăng năng suất, chuyên nghiệp hóa, đô thị hóa tương đối cao. Đảng và Chính phủ Việt Nam đã có thái độ thận trọng là thí điểm trước nhân rộng sau đối với kinh tế trang trại, qua kiểm nghiệm thực tiễn, cho rằng mô hình này phù hợp với tình hình Việt Nam, có tính ưu việt đặc biệt, vì vậy tháng 2/2002 đã ra riêng Nghị quyết 3 về việc khuyến khích và bảo hộ phát triển kinh tế trang trại lâu dài, đã xác định rõ tính chất và địa vị của kinh tế trang trại, đề ra chính sách quản lý cụ thể và còn cho phép đảng viên và cán bộ lãnh đạo đương chức có thể tham gia hoặc tự kinh doanh kinh tế trang trại, đồng thời khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước. Sau đó, kinh tế trang trại nở rộ khắp nông thôn Việt Nam, hiện đã có trên 13.000 trang trại. Sự phát triển lớn mạnh của kinh tế trang trại đã tạo điều kiện tiền đề cho việc thực hiện sản xuất lớn công nghiệp hóa, xã hội hóa trong nông nghiệp, có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa nông nghiệp quá độ đi lên hiện đại hóa. Tăng cường quản lý, bảo vệ lợi ích nông dân trong đổi mới Trong quá trình đô thị hóa nông thôn và thương mại hóa đất đai, do chính sách pháp luật không kiện toàn, quản lý không hoàn thiện và do nạn tham nhũng, những vấn đề nảy sinh trong quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Việt Nam từng một thời tương đối tập trung, nông dân liên tục khiếu kiện kêu oan, các vụ khiếu kiện như vậy chiếm tới 60% tổng số các vụ khiếu kiện trong cả nước, thậm chí lúc nào cũng có thể xảy ra các sự kiện tập thể quy mô lớn do sự xúi giục của các thế lực thù địch, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình ổn định chính trị xã hội. Trước những vấn đề mới liên tiếp xảy ra, xuất phát từ chủ trương bảo vệ lợi ích nhân dân, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đẩy mạnh quản lý đất đai và các công tác liên quan. Một là, hoàn thiện cơ chế quản lý. Quy định trách nhiệm và quyền hạn của nhà nước trong việc quản lý đất đai, tăng cường quản lý theo pháp luật và công khai minh bạch, ngăn chặn các hiện tượng tham nhũng, lãng phí và tiêu cực trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Thanh tra triệt để tình hình sử dụng đất đai trên cả nước, điều chỉnh hợp lý và công khai với xã hội quy hoạch sử dụng đất. Xác định chính sách chia đất và thuê đất sản xuất, chỉnh đốn công tác phê duyệt cho thuê đấtm quy định tất cả đất dùng cho kinh doanh và xây dựng nhà ở, về nguyên tắc đều phải thực hiện chuyển nhượng theo phương thức gọi đầu. Chính phủ Việt Nam còn thông qua những biện pháp như công bố giá đất chuẩn và vận dụng đòn bẩy thu thuế để điều chỉnh kiểm soát giá đất chuẩn và vận dụng đòn bẩy thu thuế để điều chỉnh kiểm soát giá đất, đánh vào các hoạt động đầu cơ đất đai. Hai là, giải quyết ổn thỏa những vấn đề phát sinh do trưng dụng đất. Theo thống kê, do xây dựng công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn, trong 5 năm vừa qua đã có 13% số hộ nông dân trên cả nước bị mất đất. Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng lợi ích của họ, yêu cầu điều chỉnh công tác bồi thường cho những hộ dân bị trưng dụng đất theo nguyên tắc đảm bảo lưọi ích hợp lý của các bên liên quan (bao gồm bên cung cấp đất, bên tiếp nhận đất và nhà nước), quan tâm nhiều hơn tới lợi ích của nông dân, lần đầu tiên quy định rõ ràng bằng văn bản pháp luật “phải đảm bảo mức sống của những người bị trưng dụng đất tốt hơn trước khi bị trưng dụng”. Đồng thời, tập trung giải quyết vấn đề tìm lại việc làm cho những người mất đất, ưu tiên đào tạo nghề và giúp họ tìm việc. Ba là, đẩy mạnh kiểm tra xử lý những vi phạm liên quan đất đai. Trong hai năm 2004 và 2005, đã tập trung giải quyết những vụ khiếu kiện tố cáo liên quan đến đất đai còn tồn tại trước đây, xử lý nghiêm túc những hành vi bắt ép nông dân, chiếm đoạt đất của nông dân. Chính phủ lập ra chức danh Kiểm sát viên chuyên trách về đất đai để kiểm tra tình hình chính quyền các cấp quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân thi hành chính sách pháp luật liên quan, khi phát hiện hành vi vi phạm. Kiểm sát viên được xử lý theo quyền hạn hoặc kiến nghị với các ngành chức năng của nhà nước để xử lý. Đã có những quy định xử phạt cụ thể đối với những công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai./.