Trong nhiều năm, Viên Khoa học Kỹ thuật (KHKT) Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đã tập trung nghiên cứu cải tạo cây cà phê có năng suất thấp, cây bị bệnh rỉ sắt thành cây năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt; xây dựng quy trình chăm bón và phòng trừ sâu bệnh hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Viện đã xây dựng một số mô hình cải tạo vườn cà phê cũ bằng ghép chồi để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; xây dựng và chuyển giao các vườn giống cung cấp chồi ghép tại những vùng chuyên canh cây công nghiệp để ghép cải tạo cây cà phê và thay dần các giống chưa được chọn lọc; thâm canh bằng việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Viện đã đầu tư xây dựng vườn nhân chồi tại 3 địa điểm: huyện Krông Păk (Đắk Lắk), Đắk Mil (Đắk Nông) và tại vườn thực nghiệm của viện ở TP Buôn Ma Thuột. Trong đó, mỗi địa điểm xây dựng 0,2 ha vườn nhân chồi các dòng cà phê vối (Robusta) cao sản đã được chọn lọc, nhằm thực hiện những mô hình sản xuất tiên tiến vùng chuyên canh trọng điểm cà phê của các xã Hòa Đông, Ea Kênh, Ea Yông và thị trấn Phước An (huyện Krông Păk-Đắk Lăk), các xã Chư Suê, Quảng Tiến, Quảng Phú, Cư M’gar, Ea Tar và Ea M’roh (huyện Cư M’gar-Đắk Lắk), các xã Đức Mạnh, Đắk Lao, Đức Minh, Thuận Hạnh, Đắk Mol và thị trấn Đắk Mil (Đắk Nông). Thực hiện cải tạo vườn cây cà phê, trong mỗi xã chọn 1 gia đình nông dân có khoảng 1 ha cà phê vối đang giai đoạn kinh doanh xây dựng mô hình sản xuất. Tổng diện tích các vườn cà phê trong xã được chọn mô hình sản xuất là 15 ha. Cán bộ khoa học của viện đã phân loại, đánh giá năng suất và khả năng kháng sâu bệnh từng cây cà phê trong vườn. Sau khi thu hoạch xong những cây cà phê có năng suất thấp, cây bị bệnh rỉ sắt hoặc cây có quả nhỏ đã được cưa gốc cách mặt đất từ 30 đến 35 cm. Ước tính mỗi hecta cà phê có khoảng 30% số cây phải cưa để cải tạo (tức từ 300 đến 350 cây/ha). Sau 2 tháng cưa cây, cà phê mọc chồi, việc ghép cải tạo cây được tiến hành. Trên mỗi thân cây cà phê được ghép 2 chồi. Đối với mô hình thâm canh, mỗi huyện được chọn 2 gia đình với quy mô mỗi hộ 1 ha cà phê. Trên 1 ha cà phê chia thành 2 phần vườn cây có diện tích bằng nhau. Trong đó có một nửa vườn cây được áp dụng công thức phân bón theo sự khuyến cáo của viện, còn một nửa vườn cây được bón theo tập quán sản xuất của người dân để so sánh năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Về mô hình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), mỗi huyện chọn 5 xã; mỗi xã chọn 2 gia đình làm cà phê sát vườn nhau để dễ so sánh với diện tích cà phê mỗi hộ 1 ha. Trong đó, một vườn nông dân tự phòng trừ sâu bệnh hại theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của người nông dân. Trên vườn thứ hai được tiến hành các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp theo đề xuất của viên để so sánh. Sau nhiều theo dõi tình hình sản xuất, xem xét kết quả thu được trên các mô hình sản xuất và vườn cây đối chứng, Viên Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho biết, sau 60 ngày ghép cải tạo cà phê, tỉ lệ cây sống đạt trung bình 92,8%. Trong đó tại huyên Krông Păk, vườn cây cà phê ghép chồi đạt tỉ lệ sống 95,6%. Cây ghép sau 2 năm được hãm ngọn với chiều cao từ 107 đến 137 cm, có số cặp cành cấp I từ 17,5 đến 19,0 cặp và năng suất đạt từ 7,5 đến 15 kg quả tươi/cây. Các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của cây cà phê ghép ở huyện Cư M’gar có chiều hướng tốt hơn 2 địa bàn Krông Păk và Đắk Mil. Qua theo dõi, toàn bộ số cây cà phê được ghép cải tạo đều cho nhiều quả, chất lượng quả cũng được cải thiện hơn. Trung bình 4,58 kg quả tươi cho 1 kg nhân thành phẩm, trong khi đó vườn đối chứng 4,8 kg quả tươi mới cho 1 kg nhân. Đặc biệt, những vườn cà phê được ghép cải tạo, tình trạng cây bị bệnh rỉ sắt đã giảm hẵn. Những cây cà phê được cải tạo cho hạt to và đều, vừa tăng năng suất, vừa nâng cao chất lượng, tăng giá trị sản phẩm. Về chế độ bón phân cho cà phê, viện cho hay: các mô hình khuyến cáo bón phân hợp lý cân đối giữa các thành phần N-K-P, thì lượng phân bón cho cà phê vẫn thấp hơn so với mức bón của bà con nông dân của những vườn cây đối chứng. Tuy vậy, năng suất các vườn cây bón hợp lý vẫn cao hơn những vườn đối chứng từ 0,17 đến 0,35 tấn nhân/ha; hạt cà phê của những vườn cây này cũng to hơn, màu sắc đẹp hơn, nên chất lượng sản phẩm tốt hơn. Việc bón phân hợp lý không những làm tăng thu nhập của nông dân do tiết kiệm chi phí phân bón và tăng năng suất, vừa tạo cho vườn cây phát triển bền vững và ổn định, vừa hạn chế sự ô nhĩem môi trường. Ngoài việc cung ứng nguồn chồi ghép của những dòng cà phê chất lượng tốt, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây nguyên còn tư vấn và trực tiếp giúp đỡ cho bà con dân tộc thiểu số các địa phương cải tạo vườn cà phê năng suất thấp và vườn cây bị bệnh rỉ sắt bằng ghép cây, tạo những vườn cây cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng cho yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu./.