(VEN) - Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão, khoa học và công nghệ (KH&CN) đã quyết định trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Thứ trưởng Bộ Công Thương - Đỗ Hữu Hào Do vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng KH&CN đã trở thành nhân tố “hàng đầu” trong chiến lược phát triển của mỗi ngành. Và thực tế đã chứng minh sự ứng dụng đó mang lại nhiều thành tựu vượt cả “mong đợi”. KH&CN nhân tố quan trọng trong phát triển ngành công thương - Thứ trưởng Bộ Công Thương - Đỗ Hữu Hào: Cũng như đối với nhiều ngành kinh tế kỹ thuật khác, việc ứng dụng KH&CN đã trở thành nhân tố quan trọng trong việc phát triển ngành công thương. Nhiều công trình nghiên cứu đã được áp dụng thành công vào các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của ngành; một số sản phẩm nghiên cứu trong lĩnh vực cơ khí, thủy công, điện- điện tử, sinh học... được chuyển giao vào thực tế sản xuất góp phần đáp ứng nhu cầu trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong chế tạo thiết bị, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao năng suất, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa. Trong lĩnh vực cơ khí - điện tử - tin học phải kể đến: Cụm các công trình “Nghiên cứu, thiết kế chế tạo động cơ RV165-2 có tính năng kỹ thuật tiên tiến và kiểu dáng hiện đại phục vụ lâm ngư nghiệp” được trao giải nhì giải thưởng Vifotec năm 2008... Sản phẩm nghiên cứu có chất lượng tương đương của Nhật Bản, đánh dấu bước phát triển của công nghệ chế tạo động cơ Việt Nam, phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Công trình “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dây chuyền công nghệ sản xuất phân bón hỗn hợp NPK theo phương pháp tạo hạt thùng quay dùng hơi nước” đã góp phần tiết kiệm hàng chục triệu USD nhập khẩu sản phẩm, đáp ứng nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng vùng ĐBSCL và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ, phục vụ xuất khẩu sang các nước trong khu vực... Lĩnh vực khoáng sản - luyện kim - hóa chất có: công trình “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ, chế tạo các thiết bị phục vụ khai thác và chế biến khoáng sản titan ven biển Việt Nam từ năm 1990 đến nay”; công trình “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện phân để nâng cao chất lượng thiếc từ 99,75% đến 99,95%”... góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu sản phẩm thiếc.... Đối với lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, thực phẩm đáng kể là việc áp dụng các công nghệ mới và nghiên cứu thành công việc ứng dụng các nguyên liệu dệt mới có tính năng đáp ứng nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu; nghiên cứu ứng dụng enzyme sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm, nâng cao chất lượng thịt, trứng, sữa; Nghiên cứu sử dụng protein thực vật để sản xuất thực phẩm giả thịt ở dạng tươi... tăng sản phẩm cho xã hội, giải quyết việc làm cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa... KH&CN là cơ sở đảm bảo tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả -PGS.TS Triệu Văn Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ v môi trường, Bộ NN&PTNT: PGS. TS Triệu Văn Hùng Quá trình đổi mới hơn 20 năm qua đã khẳng định, KH&CN thực sự là lực lượng sản xuất, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội với tốc độ cao và bền vững. Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước thử thách lớn với 2 mục tiêu: một là tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao để tạo việc làm tăng thu nhập cho nông dân, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo; hai là nâng cao nhanh khả năng cạnh tranh để nông nghiệp tham gia một cách có hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để đạt mục tiêu, Bộ NN&PTNT đề ra 6 nhóm giải pháp chủ yếu, trong đó phát triển KH&CN đóng vai trò quan trọng làm cơ sở đảm bảo tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông, lâm, thủy sản... Thời gian qua, ngành nông nghiệp đã tiến hành nghiên cứu, bảo tồn, chọn tạo các giống cây mới, con mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu điều kiện bất thuận của môi trường, tăng hiệu quả kinh tế (VD: lúa lai, ngô lai, công thức lai lợn ngoại, chọn tạo các giống gà, vịt siêu thịt...); Đặc biệt, đã chủ động được công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm nhiều đối tượng có giá trị kinh tế cao, tạo bước ngoặt lớn cho nghề nuôi thủy sản nhất là nghề nuôi tôm sú, cá tra, cá basa xuất khẩu góp phần tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến xuất khẩu, cung cấp thực phẩm trong nước đồng thời đóng góp tích cực vào chương trình xóa đói giảm nghèo cho nhân dân. Một số công nghệ sản xuất giống thủy sản mới đã tiếp cận hoặc vượt trình độ trong khu vực. Chẳng hạn, công nghệ sản xuất giống cua biển có tỷ lệ sống đến cỡ giống đạt 6-8%, cao hơn so với trung bình 3-5% của khu vực Đông Nam Á; công nghệ sản xuất giống ốc hương đạt tỷ lệ sống đến con giống 20%, cao hơn so với Ấn Độ và các nước khác trong khu vực. Đồng thời, phát triển và ứng dụng các công nghệ, thiết bị cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất, chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản, đánh bắt thủy hải sản, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nghiên cứu dịch tễ học các bệnh về gia súc, gia cầm có khả năng phát triển thành dịch và lây nhiễm sang người, chế tạo các loại vắcxin, thuốc thú y và các chế phẩm sinh học phục vụ chuẩn đoán, điều trị và khống chế dịch bệnh. Hoạt động KH&CN của các học viện, trường đại học, cao đẳng… được đẩy mạnh - PGS.TS Tạ Đức Thịnh, Vụ trưởng Vụ Khoa học, công nghệ và môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo: PGS. TS Tạ Đức Thịnh Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến sự phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), KH&CN, coi GD& ĐT, KH&CN là quốc sách hàng đầu. Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về KH&CN, GD&ĐT, những năm qua hoạt động KH&CN của các học viện, các trường đại học và cao đẳng... đã được đẩy mạnh từ nghiên cứu khoa học và giáo dục, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối chính sách phát triển đất nước, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, đến các hoạt động chuyển giao công nghệ, tư vấn, dịch vụ KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống. Những kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng Luật Giáo dục (1998, 2005), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, làm cơ sở để thực hiện thành công chủ trương phổ cập giáo dục tiểu học trong toàn quốc, là căn cứ quan trọng để triển khai việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông từ năm học 2002-2003 theo hướng đổi mới phương pháp dạy và học, đề cao tính chủ động sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm. Việc nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề diễn ra thường xuyên. Ứng dụng công nghệ thông tin và Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở bậc giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học cũng từng bước được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo với chi phí thấp. Thành tích về KH&CN của ngành GD&ĐT đã được Nhà nước ghi nhận thông qua việc trao tặng giải thưởng khoa học cho các tập thể, các nhà khoa học đã và đang công tác trong ngành: 1 giải thưởng Hồ Chí Minh, 10 giải thưởng Nhà nước về KH&CN, 31 giải thưởng “Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam”... Tại các kỳ Chợ công nghệ và Thiết bị Việt Nam có trên 50 đơn vị thuộc các trường đại học và học viện tham gia trưng bày sản phẩm công nghệ, thiết bị. Ban tổ chức đã tặng huy chương cho 24 công nghệ thiết bị của các trường đại học, học viện. Giá trị hợp đồng mua bán công nghệ và thiết bị lên đến hơn 50 tỷ đồng. KH&CN thực sự là động lực, cơ sở bền vững để phát triển y học Việt Nam - Bà Trần Thị Oanh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và đào tạo, Bộ Y tế: Bà Trần Thị Oanh Ngành y tế là một ngành kỹ thuật đặc biệt, KH&CN thực sự là động lực, cơ sở bền vững để phát triển y học Việt Nam. KH&CN đã và đang góp phần quan trọng trong giải quyết những vấn đề thiết thực, cấp bách về y tế và y học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước. 50 năm với sự nỗ lực của toàn ngành trong đó có những cống hiến hết mình của các nhà khoa học, hoạt động KH&CN ngành y tế đã có nhiều thành tựu nổi bật. Trước hết, ngành đã tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện đại của thế giới và khu vực trong một số lĩnh vực như sản xuất vắcxin và sinh phẩm y tế. Ngành đã nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất vắcxin viêm gan B tái tổ hợp, sản phẩm tạo ra có giá thành thấp hơn nhiều so với nhập khẩu; Làm chủ được quy trình công nghệ sản xuất vắcxin Rota tại Việt Nam - một công nghệ tiên tiến, đạt trình độ ngang hàng với các nước trong khu vực và thế giới. Việc nghiên cứu thành công công nghệ này là tiền đề cho việc sản xuất quy mô 3-5 triệu liều/năm, giúp ngành y tế tự túc và chủ động vắc xin phòng chống dịch tiêu chảy cho trẻ em Việt Nam... Trong kỹ thuật ghép tạng, đã thực hiện thành công một số ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam. Hiệu quả về mặt xã hội của việc tiếp cận và ứng dụng thành công công nghệ tiên tiến đã tạo niềm tin cho người bệnh, mở ra khả năng cứu sống người bệnh, kéo dài tuổi thọ, tạo uy tín chuyên môn cho ngành y tế. Đồng thời, ứng dụng công nghệ cao trong chẩn đoán và điều trị như điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm, tỷ lệ thành công và thai nhi khỏe mạnh ngang bằng và cao hơn các nước trong khu vực. Đặc biệt trong lĩnh vực điều trị bệnh tim mạch, các bác sĩ chuyên ngành tim mạch đã tiếp thu và làm chủ nhiều công nghệ hiện đại như kỹ thuật siêu âm, nong động mạch, chụp buồng tim, chụp động mạch, các kỹ thuật mổ tim hở, thay van tim, đặt stent động mạch vành.... iệc tiếp thu, làm chủ và ứng dụng các kỹ thuật hiện đại về chẩn đoán hình ảnh đã được áp dụng tại nhiều trong tâm y tế từ tuyến Trung ương đến các tuyến cơ sở, góp phần phát hiện chính xác một số căn bệnh trước kia chưa chẩn đoán được./. Quỳnh Nga