(VnMedia) - Hiện nay ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành giáo dục là nhu cầu tất yếu với mục tiêu hướng tới người học nhiều hơn, tăng cường tính chủ động trong học tập và nghiên cứu, góp phần tạo nên hứng thú học tập cho học sinh - sinh viên. Tuy nhiên, dù được xem là xu hướng tất yếu nâng cao hiệu quả đào tạo tại tất cả cấp học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Để đầu tư một phòng học với các thiết bị cho bài giảng điện tử như vậy đòi hỏi nỗ lực rất lớn từ các trường. Cơ sở vật chất giáo dục chưa đồng bộ để ứng dụng CNTT Việc ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành ngành giáo dục đào tạo đã được triển khai từ khá sớm với các phần mềm quản lý tài chính, quản lý thi và tuyển sinh, quản lý cơ sở vật chất, hệ thống thư viện và học liệu… Tuy nhiên, những ứng dụng này chưa đồng bộ và còn mang tính tự phát, chưa có phần mềm “lõi” về Quản lý điều hành trong phạm vi Sở và các cơ quan trực thuộc, chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành. Đó là chưa kể nhân lực trực tiếp thực hiện ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục và tại các trường ở địa phương vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều về yêu cầu của Bộ GD&ĐT trong ứng dụng CNTT. Trong quá trình đưa CNTT vào trường học, tâm lý ngại thay đổi, trì trệ trong nếp nghĩ của một số giáo viên thậm chí là lãnh đạo cũng là một khó khăn cần tính đến. Về phía các cơ sở đào tạo, hầu hết trường đại học không có sinh viên mang theo máy tính xách tay để học và thực hành. Nhiều trường phổ thông vùng sâu, vùng xa tuy có trang bị phòng thực hành máy vi tính nhưng thường xuyên đóng cửa. Giáo viên được khuyến khích sử dụng giáo án điện tử trên lớp hoặc thông qua dạy - học trực tuyến (e-learning) nhưng các hình thức giảng dạy hiện đại, tiện lợi này vẫn chưa được ứng dụng phổ biến. Bởi đơn giản đi kèm theo giáo án điện tử còn phải có các trang thiết bị đồng bộ như máy tính, tivi, máy chiếu, máy Projector… Để “số hóa” ngành giáo dục và đào tạo thành công, tạo bước ngoặt theo hướng tích cực về chất lượng giáo dục - đào tạo, trước hết cần có sự chuyển biến về ứng dụng CNTT từ đội ngũ lãnh đạo các trường, các cơ quan quản lý. Ngoài ra, các trường cần có sự đầu tư đúng, có hệ thống và đồng bộ. Hiệu quả ứng dụng CNTT phải được đặt lên hàng đầu. Một yếu tố quan trọng khác là phải nâng cao ý thức học tập theo phương pháp mới của học sinh - sinh viên. Sự thành công của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục - đào tạo kết quả cuối cùng sẽ được đo lường qua chất lượng học sinh - sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đa dạng hóa hình thức ứng dụng CNTT vào giáo dục Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đang là vấn đề được xã hội quan tâm. Tuy nhiên, đối với các trường học ở thành phố, chưa phải 100% các lớp học các em học sinh đã được học với giáo án điện tử. Và con số này đem về các tỉnh, thành trong cả nước chỉ chiếm tới vài chục phần trăm, nhưng ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa, giáo án điện tử vẫn là một cái gì đó xa lạ. Qua các khảo sát được thực hiện ở các tỉnh, thành trong cả nước, hầu hết các trường đều không phủ nhận với sự đóng góp của Internet, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao cũng như việc giảng dạy của thầy và trò hiệu quả và đỡ vất vả hơn Trong chủ trường đưa ứng dụng CNTT vào dạy và học của Bộ GD&ĐT, có nhiều kênh phối hợp với các đơn vị viễn thông để đảm bảo được yêu cầu này. Đối với các trường có cơ sở vật chất tốt, việc học sinh được tiếp cận nhiều hơn với CNTT và giáo án điện tử không còn là việc phải bàn. Nhưng đối với những trường điều kiện chưa đáp ứng được thì việc triển khai hệ thống thông tin quản lý giáo dục và sổ liên lạc điện tử giữa gia đình - nhà trường đã phát huy hiệu quả. Với hệ thống này, các phương pháp quản lý giáo viên, học sinh theo kiểu cũ như gửi sổ liên lạc về nhà, thông báo các nội dung qua giấy tờ, lập báo cáo thủ công… xem ra đã bộc lộ nhiều bất cập. Hàng ngày, phụ huynh sẽ biết được nội dung học, điểm số, kỷ luật của con ở trường thông qua email hay một tin nhắn trên điện thoại di động. Một cách làm năng động, giảm bớt phiền hà cho cả giáo viên lẫn phụ huynh mà lo sợ xa rời việc học tập của học sinh. Hiện nay, hệ thống nay đang phát huy hiệu quả ở rất nhiều địa phương trong cả nước mà tác dụng của nó đã khiến học sinh phải chuyên cần hơn, các thầy cô phải cố gắng hơn vì thông tin luôn được công khai rộng rãi, minh bạch và hết sức khách quan. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra ở đây là hệ thống này sẽ được triển khai như thế nào ở những địa phương mà Internet vẫn còn là một khái niệm tương đối mới mẻ. Và mục tiêu mà các Sở GD&ĐT đang đặt ra là phấn đấu kết nối Internet đến 100% các trường vẫn đang trong quá trình thực hiện. Đối với câu chuyện ứng dụng CNTT trong giáo dục dễ nhận thấy mạng internet thông suốt, phần mềm chuyên nghiệp là chưa đủ… Khó khăn cố hữu chính là tình trạng thiếu máy móc của các trường. Việc tăng cường cấp máy tính cho các trường học vẫn được xem như muối bỏ bể mà phần lớn vẫn phụ thuộc vào năng lực tự vận động của trường. Khi bài toán về máy móc còn đang đau đầu, vấn đề duy trì tốc độ mạng, bảo hành, bảo trì hệ thống mạng lưới máy móc cũng như nhân lực phục vụ công việc này cũng chưa có câu trả lời. Muốn hệ thống vận hành tốt, đòi hỏi mỗi trường phải có một kỹ thuật viên và kinh phí để chi trả lấy từ đâu ra? Ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo là điều cấp bách để đạt mục tiêu giáo dục Việt Nam, trình độ học sinh Việt Nam tương đương các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Nhưng với điều kiện như ở Việt Nam, đồng bộ hóa CNTT trong giảng dạy sẽ còn là hành trình dài cùng với sự đồng hành của các đơn vị viễn thông. Nhật Dương