(PL&XH) - Hàng trăm tỷ đồng tiền thuế, phí từ hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn TP Hải Phòng đã không được thu suốt những năm qua. Thậm chí, có dấu hiệu Nhà nước bị doanh nghiệp "móc túi" qua việc hoàn thuế từ hoạt động khai thác.

Chỉ có 2 doanh nghiệp đủ thủ tục khai thác

Theo Sở TN&MT Hải Phòng, từ năm 2006 đến nay, TP đã cấp giấy phép khai thác khoáng sản cát phục vụ san lấp cho 11 doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong đó hiện có tới 7 doanh nghiệp chưa có quyết định, thông báo thu hồi đất để sử dụng hợp pháp giấy phép khai thác đã được cấp.

11 doanh nghiệp này đang có 14 dự án khai thác khoáng sản là cát, tổng diện tích các dự án khai thác gần 780ha. Trong đó chỉ 5 dự án đã có Giấy chứng nhận sử dụng đất. Nhưng một trong số đó (Vinaconex) đã hết hạn giấy phép khai thác khoáng sản, trong số còn lại thì có 2 dự án chưa tổ chức khai thác nên không phát sinh doanh thu. Về thời gian, dự án được giao thời gian khai thác dài nhất là 29 năm, ngắn nhất là 1,6 năm.

Theo danh sách do Sở TN&MT thống kê, TP Hải Phòng chỉ có 2 doanh nghiệp đã đầy đủ các thủ tục phù hợp để khai thác khoáng sản cát phục vụ san lấp. Đó là Cty CP Thương mại Kinh Thành, TP HCM, với 99,88 ha mặt nước tại tây nam cửa Lạch Huyện, thời hạn khai thác là 11 năm, đã tổ chức khai thác. Và Cty CP Thương mại XNK Hải Nam, TP Hải Phòng, nhưng doanh nghiệp này chưa tổ chức khai thác cát.

Hiện TP Hải Phòng có rất nhiều dự án quy mô lớn như đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, xây dựng khu công nghiệp Đình Vũ, khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, khu công nghiệp VShip... Lượng cát được sử dụng để san lấp chỉ riêng phục vụ các dự án phát triển công nghiệp, cảng biển lên tới trên dưới 100 triệu m3/năm. Thực tế, cả 2 doanh nghiệp đã có đủ thủ tục khai thác cát lại không trực tiếp tham gia cung cấp cát cho các dự án này. Có nghĩa, lượng cát san lấp cấp cho các công trình đều là xuất phát từ những doanh nghiệp đang thiếu thủ tục khai thác phù hợp?

Cát cấp vào các công trình san lấp, xây dựng được coi là hợp pháp khi đã hoàn thành việc nộp ít nhất 3 loại chi phí, gồm thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, thực tế là hiện các doanh nghiệp ký hợp đồng san lấp mặt bằng cung cấp cát đen tới công trình chỉ cấp hóa đơn giá trị gia tăng cho chủ đầu tư. Còn phí bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên hoàn toàn không có. Thậm chí, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường còn không thể hiện trong báo cáo thuế của nhiều doanh nghiệp cung cấp cát san lấp nộp tại cơ quan thuế. Trong khi hai loại thuế và phí này là chi phí hợp lý để chứng minh nguồn gốc và buộc phải thể hiện trong báo cáo thuế nộp cơ quan thuế.

Tàu hút cát... chui tấp nập hoạt động trên sông Bạch Đằng, TP Hải Phòng. Ảnh: Quốc Dũng

Ngân sách bị “móc túi” ?

Theo quy hoạch khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đến năm 2020 của TP Hải Phòng, trữ lượng khoáng sản làm vật liệu san lấp của thành phố có thể khai thác được khoảng 100 triệu m3/năm. Căn cứ theo Luật Thuế tài nguyên, TP Hải Phòng đã ban hành quy định về giá tính thuế tài nguyên (Quyết định 497 ngày 31-3-2011). Theo đó, mỗi m3 cát bắt buộc phải nộp 10% thuế tài nguyên, mức giá tính thuế là 40.000 đồng/m3. Đồng thời, theo quy định về mức thu phí bảo vệ môi trường cũng do TP Hải Phòng ban hành (Quyết định 1884 ngày 4-10-2010), thì mỗi m3 cát san lấp hút lên từ sông thuộc địa bàn TP phải chịu thêm 2.000 đồng phí bảo vệ môi trường. Nhưng do đa số doanh nghiệp chưa nộp khoản tiền này, nên ngành thuế Hải Phòng đã thất thu ít nhất 6.000 đồng/ m3 cát khai thác trên địa bàn TP.

Cát đưa vào công trình phải có đủ thủ tục hợp pháp và hợp đồng san lấp mặt bằng. Đây là các giấy tờ cần có làm cơ sở hoàn thiện các thủ tục hoàn công thi công xây dựng. Thực tế, mọi doanh nghiệp cung cấp cát ở Hải Phòng chỉ cung cấp được hóa đơn giá trị gia tăng cho dự án xây dựng đã ký hợp đồng san lấp nhưng lại không có chứng từ về nguồn gốc cát như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường. Lý do vì đây đều là cát không có nguồn gốc nên không có cơ sở để nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.

Mặt khác, tất cả các công trình xây dựng hiện đều nhập cát san lấp với mức giá từ 70.000 - 100.000 đồng/m3. Nhưng đây là mức giá liên quan tới nhiều doanh nghiệp tham gia vào “quy trình” mua bán cát. Mục đích là để giảm mức thuế giá trị gia tăng phải nộp xuống mức có thể bằng… 0%, khi doanh nghiệp cuối cùng… đã mất tích. Và khi doanh nghiệp này mất tích thì cũng không thể chứng minh được nguồn gốc của cát đã cấp vào công trình.

Dù là mua bán cát lòng vòng trên giấy, thì căn cứ các quy định hiện hành, doanh nghiệp tham gia đều phải báo cáo tài chính, nộp thuế... Nhưng thực tế qua các thủ thuật kế toán, lượng thuế thực nộp không những đã không còn, mà ngược lại Nhà nước còn bị… “móc túi” tiền hoàn thuế cho việc xây dựng. Vì căn cứ theo Luật Xây dựng, số cát mua theo hợp đồng sẽ được hoàn thuế giá trị gia tăng. Và do giá cát làm cơ sở tính hoàn thuế là căn cứ theo mức từ 70.000 - 100.000 đồng/m3, nên mỗi m3 cát, Nhà nước phải hoàn lại từ 7.000 - 10.000 đồng/m3 cho chủ dự án.

Như vậy, Nhà nước đã mất ít nhất 3 lần tiền trong hoạt động khai thác cát san lấp hiện nay. Trong đó, Nhà nước vừa mất hơn 6.000 đồng/m3 thuế, phí ở khâu khai thác, đồng thời bị trốn khoảng 13% thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp... trong khâu mua bán lòng vòng. Cuối cùng là Nhà nước bị "móc túi", mất 10% tiền hoàn thuế cát tại công trình xây dựng. Một doanh nghiệp ước tính, cứ mỗi m3 cát san lấp được bán vào công trình, ngân sách bị "móc túi" mất khoảng 20.000 - 30.000 đồng tiền thuế, phí các loại...

Như vậy, với hàng trăm triệu m3 cát san lấp đã khai thác từ năm 2006 đến nay, Hải Phòng đã mất hàng trăm tỷ đồng tiền thuế các loại liên quan tới hoạt động này. Vậy ai phải chịu trách nhiệm với khoản tiền bị mất này đang là câu hỏi chờ được làm rõ?

Q.Dũng - M.Quang