Nói công bằng thì thủy điện không có lỗi... Vấn đề nằm ở chỗ, những người quản lý và điều hành đập đã vì lợi ích riêng khiến thủy điện trở thành mối lo ngại chung của cộng đồng.

KSCC Hoàng Xuân Hồng, Trưởng ban KH-CN, Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (VNCOLD) còn chỉ thêm một thực tế nhiều dự án thủy điện đã “đi cửa sau” để làm mọi cách thông qua, làm nhẹ công tác đánh giá tác động môi trường…

Nói giảm, nói tránh

Theo TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam chỉ ra 2 mặt của thủy điện. Mặt được ở đây, thủy điện sẽ bổ sung nguồn năng lượng cho hệ thống điện quốc gia (Việt Nam >30%) - góp phần bảo đảm an ninh lương thực; tăng thu nhập cho nền kinh tế - tạo công ăn việc làm; hình thành các tiểu vùng khí hậu nhờ tạo nên diện tích mặt thoáng lớn cho vùng trước đập; giảm lượng đỉnh lũ/lưu lượng lũ xuống hạ lưu... Thế nhưng mặt tích cực của thủy điện lại phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của con người (bộ máy quản lý, quy trình vận hành). Mặt chưa được của thủy điện là khi thủy điện mọc lên là mất rừng đi và toàn bộ hệ sinh thái môi trường nghiễm nhiên bị thay đổi.

Theo KS Hoàng Trọng Hồng, xây dựng thủy điện là đồng nghĩa với mất đất, mất rừng kèm theo rất nhiều hộ dân cuộc sống bị đảo lộn vì phải di dời đến nơi ở mới, nhường đất cho xây dựng hồ. Thế nhưng khi một dự án được thông qua, người ta chỉ nghe thấy cái được, còn cái mất đáng ra có thể bù đắp (kể cả với môi trường) thì lại ít khi được thực hiện. “Hiện nhiều công ty tư nhân cũng xây dựng thủy điện. Khi làm, họ thuyết minh và chỉ nói công trình sẽ có lợi nhiều nhất, không hại dân sinh. Dự án thủy điện nhỏ vẫn được xây dựng, nhưng khi đánh giá tác động môi trường (ĐTM), soi xét thiệt hại khác đã cố tình giảm đi để dễ thông qua.

Đặt cốt thép chuẩn bị đổ bê tông bản mặt của mái thượng lưu đập chính đập Cửa Đạt trên thượng nguồn sông Chu tại vị trí thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Thậm chí, hiện nay còn có chuyện khi thuê một đơn vị đánh giá ĐTM đã đi cửa sau để đánh giá vấn đề nhẹ đi”, ông Hồng nói.
Thực tế này đã được Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) chứng minh qua nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về (ĐTM) đối với các dự án đầu tư tại Việt Nam. Thạc sĩ Nguyễn Việt Dũng, Phó giám đốc PanNature, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: “Tiếp cận hơn 100 dự án về thủy điện càng chứng tỏ cái gọi là “đầu voi, đuôi chuột” trong việc thực thi pháp luật về môi trường”. PanNature dẫn ra nhiều dự án như thủy điện Hương Sơn chỉ có 01 trang báo cáo ĐTM; dự án thủy điện Lai Châu – một trong ba công trình thủy điện lớn trên sông Đà với công suất 1.200MW, toàn bộ nội dung dày tới 200 trang, nhưng phần đánh giá tác động kinh tế - xã hội cũng chỉ chiếm 2 trang.

TS Nguyễn Khắc Kinh, nguyên vụ trưởng Vụ Thẩm định đánh giá tác động môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng thừa nhận: “nhiều dự án không bằng lòng lắm nhưng cuối cùng cũng cho qua. Có những dự án, dù biết rằng có nhiều vấn đề chưa thuyết phục, song những người thẩm định cũng chẳng thể đủ cơ sở khoa học hay con số để “bác” lại dự án”.

Bài toán kiểm tra, giám sát

Ông Phan Kỳ Nam, nguyên Chủ nhiệm khoa Thủy điện, Đại học Thủy lợi Hà Nội cho rằng, thủy điện vốn rất ưu tú, nhưng người đầu tư cho dự án này lại tìm mọi cách để tiền “rót” vào túi nhanh hơn. Vậy là công tác hoàn nguyên (trồng rừng), vận hành hồ chứa theo đúng quy trình để không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái… làm một cách qua quýt cho có. “Chúng ta đang ở thế “sự đã rồi”, giờ chỉ còn cách kiểm tra, giám sát chặt mà thôi”, ông Nam nói.

Buộc cốt thép bản mặt đập Cửa Đạt. (Ảnh: B.N)

KS Hoàng Trọng Hồng cũng bày tỏ quan điểm, những hệ lụy từ thủy điện mang lại chính là do những con người điều hành nó gây ra. Lòng tham của con người, cộng với sự vô trách nhiệm đã dẫn đến từ khâu lập dự án, thi công, giám sát, thẩm định kỹ thuật và quy trình vận hành đều có những kẽ hở “chết người”. “Khi vận hành, vì quyền lợi của một nhóm người, chủ đầu tư nên đã tích nước không theo quy trình vận hành đã đề ra. Vấn đề này thực tế là có. Giống như tham nhũng, để “bắt được tay, day được trán” quả là khó”, ông Hồng cho biết.

Về điều này, TS Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam cũng chỉ ra, thông thường khi nhận một công trình những đơn vị thiết kế đều lên dự toán theo quy chuẩn của nhà nước, nhưng chủ đầu tư chỉ chi 60~70% giá theo dự toán. Muốn được việc, người thiết kế đành cắn răng nhận. Ngay việc khảo sát cũng không được nhận đủ kinh phí theo dự toán. Ví dụ như đo đạc địa hình, các thnỹ điện đều xây dựng ở nơi heo hút, rừng nhiều, đo đạc đâu có dễ, do ít tiền nên chỉ vẽ sơ bộ, còn căn cứ vào bản đồ tỷ lệ thô vẽ lại. Về địa chất thì đáng khoan 10 mũi thì chỉ khoan 5 mũi mà có khi khoan chưa đến đá gốc, lấy vài mẫu để báo cáo, còn lại dùng phương pháp siêu âm ngoại suy, như thế thiết kế sao có thể chuẩn được?

Hàng loạt lỗ hổng từ khâu chuẩn bị dự án đến thiết kế, thi công, vận hành đang khiến cho thủy điện trở thành mối lo ngại thực sự. KS Hồng nhấn mạnh: “Việc xây dựng các đập thủy điện lớn ở nước ta đã an bài, giờ chỉ còn công tác quản lý, giám sát, kiểm soát chặt mới mong giảm bớt được phần nào những lo lắng có thực của cộng đồng”.

Bài 3: Thận trọng không bao giờ thừa