- Trước hàng loạt ý kiến trái chiều xoay quanh việc trồng cây biến đổi gen tại Việt Nam thời gian gần đây, KH&ĐS lấy ý kiến của một số nhà khoa học đầu ngành trong trong lĩnh vực trồng trọt với mong muốn đưa ra những cách tiếp cận an toàn với cây trồng biến đổi gen.

Nhìn lại việc nhập công nghệ lúa lai

PGS.TS Nguyễn Thị Trâm (Viện Nghiên cứu Lúa, Đại học Nông nghiệp Hà Nội): Hiện chúng ta chưa tạo được giống cây biến đổi gen mà phải đi nhập từ các công ty nước ngoài. Hãy rút kinh nghiệm về cách tiếp thu công nghệ lúa lai trước đây: Năm 1990, nông dân vùng biên giới Việt - Trung gieo cấy lúa lai Trung Quốc, thu năng suất vượt trội, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cho phép nhập hạt F1, Nhà nước trợ giá để nông dân mở rộng sản xuất. Khi nông dân phát triển rộng hơn thì nước ngoài tăng giá hạt giống, khiến chúng ta bị lệ thuộc cả về công nghệ và giá.

Ngô là giống cây trồng chủ lực của bà con nông dân.

Từ bài học này, cần phải thận trọng lựa chọn cách tiếp thu công nghệ biến đổi gen. Thực tế, có nhiều công nghệ ưu việt, chúng ta phải nhập khẩu, song đối với một công nghệ còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như công nghệ biến đổi gen thì cần thời gian nghiên cứu phát hiện đầy đủ những hiểm họa để không bị lệ thuộc. Chúng ta cần làm chủ công nghệ ngay từ đầu, tự tạo được gen và giống biến đổi gen trong nước để phát triển sản xuất.

Hiện, nước ta dự định mở rộng diện tích trồng ngô biến đổi gen, nhưng mới chỉ thử nghiệm 2 loại là: Ngô kháng sâu đục thân (Bt) và ngô kháng thuốc cỏ, chưa có ngô biến đổi gen năng suất cao. Phải nhớ rằng, ngô là cây giao phấn, nó có thể thụ phấn cho các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần, lan truyền gen biến đổi trong quần thể thực vật, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, hủy hoại tài nguyên di truyền và làm giảm tính đa dạng sinh học của toàn vùng. Thêm nữa, khi gen lạ được đưa vào thì nó sẽ tồn tại như một thực thể tự nhiên không thể loại bỏ được.

Tôi cho rằng, thay vì nhập giống cây trồng biến đổi gen, Nhà nước hãy cấp kinh phí triển khai nghiên cứu cho các phòng công nghệ sinh học đã được đầu tư xây dựng để họ tạo ra gen hữu ích và tạo giống cây trồng biến đổi gen của Việt Nam. Mặt khác, hãy tập trung nội lực phát triển sản xuất những cây trồng có lợi thế cạnh tranh như lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản... bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi. Ngoài ra, chúng ta có thể thử nghiệm nhập giống cây trồng biến đổi gen làm nguyên liệu sản xuất xăng sinh học hoặc để trồng rừng làm nguyên liệu gỗ, giấy, cao su...

Triển khai trên cây phi lương thực trước

GS.VS Trần Đình Long (Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam): Tôi không phản đối, nhưng phát triển cây cây trồng biến đổi gen phải đảm bảo các yếu tố như kiểm soát được rủi ro, quản lý được công nghệ và giám sát tốt quá trình thực hiện. Hiện giới khoa học nước ta chưa có những lý giải thuyết phục về ảnh hưởng của cây trồng cây trồng biến đổi gen và sản phẩm của chúng. Chúng ta cũng chưa tạo được giống mà phải đi nhập từ nước ngoài, dẫn đến việc bị lệ thuộc về công nghệ. Khả năng quản lý và giám sát cũng yếu kém. Tôi ví dụ người dân tại Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cũng trồng bông biến đổi gen một cách tự phát. Điều này chứng tỏ khâu quản lý của chúng ta lỏng lẻo.

Tôi cho rằng, tại thời điểm này và trong vài thập niên tới, nước ta không nên gieo trồng biến đổi gen của các loài lúa, ngô, đậu tương và một số cây thực phẩm khác. Hãy thu thập đầy đủ thông tin, phân tích đánh giá khách quan tác động 2 mặt của cây trồng biến đổi gen, đồng thời hãy thử nghiệm hoặc gieo trồng trên diện rộng cây trồng biến đổi gen của một số loài cây phi lương thực như bông, cây lâm nghiệp, hoa cây cảnh nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn sinh học.

Cây trồng biến đổi gen được trồng thương mại đại trà từ năm 1996. 4 loại cây trồng cây trồng biến đổi gen được thương mại hóa gồm: Đậu tương kháng thuốc trừ cỏ, ngô, bông kháng thuốc trừ cỏ, kháng sâu và cải dầu kháng thuốc trừ cỏ.

Thu Hà (thực hiện)