Hiện thị phần bán lẻ của nhà đầu tư nước ngoài chiếm trên 50% thị phần ở Việt Nam và tỷ lệ này có xu hướng ngày càng tăng cao hơn.

Savills: nha ban le noi co the “lep ve” tren san nha - Anh 1

Các thương hiệu quốc tế đổ bộ vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây. Ảnh: TL

“Thời trang nhanh” thắng thế

Theo Savills Việt Nam, sau một thời gian phát triển cầm chừng, thị trường bán lẻ Việt Nam đang có những chuyển biến đáng kể, với sự góp mặt của hàng loạt các thương hiệu lớn từ các nhiều lĩnh vực nổi bật như thời trang hay cửa hàng tiện lợi.

Sau cơn sốt Zara, thị trường thời trang Việt Nam xôn xao khi Hennes & Mauritz AB (H&M) chính thức ra mắt tại TPHCM trong tháng 9-2017. Ngoài ra, Uniqlo, Forever21,… cũng đang có kế hoạch thâm nhập thị trường trong thời gian tới.

Theo kinh nghiệm làm việc với H&M và Zara của bộ phận bán lẻ Savills, Việt Nam luôn được đánh giá cao về sức tiêu thụ hàng ngoại nhập. Tại thị trường Việt Nam, đơn vị quản lý Zara cũng áp dụng một chính sách giá đặc biệt, thấp hơn các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia… 15-20%, với những mã hàng chọn lọc. Sau Zara, các “anh em” nhà Inditex như Stradivarius, Pull&Bear, Massimo Dutti cũng lần lượt thâm nhập thị trường Việt Nam, hướng đến nhiều đối tượng khách hàng.

Đối với H&M, tại Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia thứ 5 sau Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan mà thương hiệu này có mặt. Giá bán của H&M cũng thấp hơn Zara, và mục tiêu hướng đến lượng người mua cao nhất cũng thể hiện trong tiêu chí chọn mặt bằng bán lẻ với diện tích 2.000-3.000 mét vuông của hãng.

Cách đây khoảng 4-5 năm, các khảo sát từ nhiều đơn vị uy tín quốc tế đã nhận định rằng, thị trường bán lẻ Việt Nam cần 1 thập kỷ để phát triển. Tuy nhiên, ông Phạm Thái Bình, Trưởng bộ phận bán lẻ Savills TPHCM cho rằng nhiều chuyên gia đã bất ngờ với những gì họ đang chứng kiến.

“Bước đột phá của thị trường xuất phát từ nhu cầu mua sắm hàng ngoại nhập giá bình dân ngày một tăng, trong khi hàng xách tay chưa thể làm thỏa mãn người tiêu dùng. Minh chứng cho điều này, doanh thu của Zara Việt Nam hiện nằm trong top 5 cửa hàng bán tốt nhất toàn cầu của hãng”, ông Bình nói.

Ông Bình cho biết hiện “thời trang nhanh” với giá cả hợp lý đang là ngành hàng phát triển mạnh nhất tại Việt Nam, tiếp đó là rạp chiếu phim, giải trí và ẩm thực.

Ngoài ra, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng là mảnh đất màu mỡ cho các quỹ đầu tư nước ngoài. Các đơn vị này sẵn sàng đổ vốn vào một số các doanh nghiệp nội để phục vụ mục đích phát triển, mở rộng thị trường bán lẻ trong một số các lĩnh vực như ẩm thực, giải trí, giáo dục…

Tuy vậy, theo ông Bình, thị trường bán lẻ đã có sự mở cửa nhưng cánh cửa này vẫn chưa thật sự đủ rộng, với mục tiêu bảo vệ các nhà bán lẻ nội địạ. Vì vậy, để tránh mất thời gian và công sức, các nhà bán lẻ nước ngoài chủ yếu tập trung vào chiến lược mua bán - sáp nhập (M&A) thay vì đầu tư truyền thống để tiết kiệm cả tiền, công sức và thời gian.

Cạnh tranh nội – ngoại

Theo ước tính của Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, khoảng 50% thị phần bán lẻ Việt Nam thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Song trên thực tế, con số này được ước lượng cao hơn. Do đó, trong tương lai, hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ nội có thể bị thu hẹp lại do thiếu kinh nghiệm, quy mô đầu tư và nguồn nhân lực.

“Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoại là sự bài bản, cẩn trọng và chiến lược, tầm nhìn dài hạn, trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá là linh hoạt, dễ thích ứng vì thấu hiểu được thói quen và văn hóa người tiêu dùng. Thế nhưng, ở sân chơi quốc tế thì sự linh hoạt này không còn là ưu điểm dù thế mạnh đó có thể áp dụng cho một số thị trường mới ở các tỉnh”, ông Bình nhận xét.

Một thực tế nữa, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn đang làm công việc thương mại là chính, gồm 2 giai đoạn: xây dựng thương hiệu và bán. Trong khi để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược dài hơn và chú trọng hơn việc xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp.

Ông Bình nhận định, các doanh nghiệp nội địa có quy mô càng lớn thì khả năng vượt ra khỏi tầm kiểm soát càng cao. Do vậy, nhà bán lẻ hiện đại Việt Nam rất dè chừng về quy mô và số lượng. Khi không thể vượt qua giai đoạn bão hòa và đi xuống, những người đứng đầu doanh nghiệp nội thường dễ đi đến quyết định chuyển nhượng và tìm cơ hội khác.

Việc khẳng định vị thế, chỗ đứng còn đầy chật vật thì chiếm lĩnh thị phần là một điều ngoài tầm với của các doanh nghiệp nội địa. Trong khi các doanh nghiệp này đang loay hoay tìm lối đi, nguồn vốn… thì doanh nghiệp nước ngoài lại bỏ qua các bước này mà nhắm thẳng tới thị phần.

Thêm vào đó, sự ứng phó với “cơn sóng doanh nghiệp ngoại” của các doanh nghiệp trong nước luôn chỉ gói gọn trong các bước: ngồi lại bên nhau - dự báo khả năng đối thủ - bàn bạc giải pháp.

Ông Bình cho rằng, sự trao đổi - rút kinh nghiệm nhưng lại thiếu sự đoàn kết và gắn bó trong một mục tiêu phát triển chung thì sẽ mất một khoảng thời gian rất dài để có thể tìm được hướng đi, thoát khỏi tư thế “chung bàn mà chẳng chung mâm” hiện tại.

Cao Ban