(baodautu.vn) Các bộ, UBND cấp tỉnh trực tiếp thực hiện đầy đủ và chịu trách nhiệm toàn diện về các quyền của chủ sở hữu đối với các công ty do mình thành lập.

Mười quyền mà các bộ, UBND cấp tỉnh phải thực hiện với tư cách là chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHHMTV) do mình quyết định đã được Dự thảo Nghị định về thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty TNHHMTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác (thay thế Nghị định 132/2005/NĐ-CP) liệt kê một cách chi tiết.

Có thể thấy, mọi hoạt động của một công ty, từ quyết định thành lập, phê duyệt điều lệ, chủ trương góp vốn hình thành công ty con có trên 50% vốn góp, tiếp nhận thành viên tham gia… đến quyết định cơ cấu, tổ chức, bổ nhiệm, quyết định về lương thưởng, cơ chế giám sát… cũng như xây dựng, phê duyệt chủ trương tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản… đều sẽ do chính bộ, UBND địa phương ký quyết định thành lập chịu trách nhiệm. Như vậy, sự phân tán trong thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước tạm gọi là ở cấp địa phương, cấp ngành này đang có hướng giải quyết.

Theo phân tích của ông Phạm Đức Trung, Phó trưởng ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương), nội dung này là bước tiến rất rõ của Dự thảo Nghị định trong mục tiêu thống nhất quyền của chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước. Lý do là, so với Nghị định 132/2005/NĐ-CP hiện hành, một nửa quyền hạn này đang được quy định cho tập thể một số cơ quan, đơn vị khác.

Có thể thấy rõ nhất trong quy định liên quan đến quyền quyết định đầu tư và nhân sự, cụ thể là các bộ, địa phương phê duyệt mục tiêu, chiến lược, kế hoạch sản xuất - kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm, bao gồm cả Danh mục các dự án đầu tư từ nhóm B trở lên theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng hoặc một mức khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty và thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp; quyết định mức lương, xếp lương, nâng lương đối với Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc (Giám đốc).

Tất nhiên, đây mới chỉ là bước đầu trong thực hiện mục tiêu đảm bảo tính nhất quán trong thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước. Bởi, mặc dù xác định rõ quyền chủ sở hữu, song việc tổ chức thực hiện sẽ không đơn giản, nếu không có một bộ máy chuyên trách.

Ông Trung cũng thừa nhận rằng, nếu không quy định rõ trách nhiệm chủ sở hữu thuộc về bộ trưởng hay chủ tịch UBND cấp tỉnh, doanh nghiệp nhà nước cấp bộ, địa phương muốn xin ý kiến về đầu tư chắc lại phải tới bộ phận về đầu tư, xin ý kiến về nhân sự lại sang bộ phận quản trị của cơ quan chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, đại diện Ban soạn thảo Dự thảo, mặc dù nhấn mạnh vào sự khác biệt về việc tăng quyền hạn cho các bộ trong việc giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện quyền chủ sở hữu với doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, cũng cho biết việc tổ chức bộ máy của các bộ để thực hiện trách nhiệm này với yêu cầu tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước cũng là câu hỏi lớn.

Theo Dự thảo, các bộ quản lý ngành kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập sẽ thực hiện 2 chức năng, gồm thẩm định các nội dung thuộc 5 quyền do Thủ tướng Chính phủ thực hiện để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; trực tiếp thực hiện một số quyền còn lại và chịu trách nhiệm toàn diện về việc thực hiện các quyền được phân công. “Sẽ cần bộ phận chuyên trách để thực hiện vai trò chủ sở hữu nhà nước với các doanh nghiệp này. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm toàn diện trước bộ trưởng về các quyền chủ sở hữu nhà nước mà Dự thảo quy định cho các bộ. Có như vậy, các bước tách bạch này mới dần được thực hiện”, vị đại diện này phân tích.

Dự thảo đang được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt

Danh mục doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và trực tiếp thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước

1. Tập đoàn Điện lực Việt Nam

2. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

3. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

4. Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam

5. Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

6. Tập đoàn Dệt may Việt Nam

7. Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam

8. Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam

9. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)

10. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam

11. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

12. Tổng công ty Hàng không Việt Nam

13. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam

14. Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

15. Tổng công ty Lương thực miền Bắc

16. Tổng công ty Lương thực miền Nam

17. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước

18. Tổng công ty Thép Việt Nam

19. Tổng công ty Xi măng Việt Nam

20. Tổng công ty Cà phê Việt Nam

21. Tổng công ty Giấy Việt Nam

22. Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

(Nguồn: Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 132/2005/NĐ-CP về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước)