Khi Toyota tung ra phiên bản Fortuner 2.7 VVT-i 2WD model 2012, sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn trong phân khúc SUV. Sự kiện này gây áp lực trực tiếp tới Mitsubishi Pajero Sport 3.0 G trong khi Ford Everest không có bản máy xăng và cũng đã trở nên già cỗi trong cuộc đua này.

Đầu tháng 3 này, khi tiếp xúc đại diện phòng Tiếp thị và Truyền thông của Mitsubishi, họ có cho tôi biết con số dự kiến số lượng bán hàng Pajero Sport cho cả 3 sản phẩm ước chừng vào khoảng 100 xe/tháng trong năm nay. Trong khi đó, trong buổi ra mắt vào giữa tháng 3 thì Toyota đặt ra mục tiêu bán hàng cho Fortuner là 560 xe/tháng. Thực ra bây giờ phải gọi Fortuner là “quả bom tấn” thay vì Innova trước đây thì đúng hơn bởi trong vài tháng trở lại đây, doanh số Fortuner đang vượt lên Innova (tháng 1/2012: Fortuner: 381 xe, Innova: 186 xe và tháng 2/2012: Fortuner: 441 xe, Innova: 354 xe).

Có một điều khiến tôi băn khoăn rằng, một sản phẩm thành công là một sản phẩm có chất lượng, vậy thì ở đây vì sao có sự chênh lệch doanh số thực tế và cả doanh số dự kiến cho hai mẫu SUV này đến như vậy. Liệu có phải chất lượng của Pajero Sport không thể so sánh với Fortuner hay chăng? Hãy cùng chúng tôi đi tìm câu trả lời.

Thiết kế, trang bị ngoại thất

Khi Pajero Sport ra mắt vào tháng 10 năm 2011, tại thời điểm ấy, nhờ có những đường nét mềm mại, Pajero Sport được đánh giá là phù hợp với đô thị hơn là Fortuner. Nhưng hiện tại, Fortuner đã có phiên bản mới cùng những cải tiến phù hợp. Hai chiếc xe đã trở nên cân sức cân tài. Cả 2 đều thỏa mãn yếu tố đẹp trong đô thị và tiện dùng khi đi đường dài, đặc biệt là đường núi mặc dù cả 2 phiên bản này chỉ trang bị 1 cầu chủ động.

Toyota Fortuner 2.7 VVT-i 2WD Mitsubishi Pajero Sport G 3.0 V6 2WD

Tiếp tục xét đến phần kích thước, Fortuner và Pajero Sport lần lượt có kích thước tổng thể 4.695 x 1.840 x 1.850 mm và 4.695 x 1.815 x 1.840 mm. Rõ ràng về chiều dài cả 2 xe bằng nhau nhưng chiều rộng tổng thể và chiều cao tổng thể thì Fortuner lại lớn hơn. Do đó, không gian nội thất sẽ Fortuner có ưu thế hơn (điều mà tôi xin đề cập ở phần sau).

Trong khi bán kính quay vòng của Fortuner là 5,9 m thì Pajero Sport chỉ là 5,6 m. Cộng với kích thước nhỏ hơn khiến Pajero Sport dễ dàng xoay trở trong không gian hẹp.

Cả Fortuner 2.7 2WD và Pajero Sport 3.0 G 2WD đều trang bị chóa đèn cốt là thấu kính cầu. Tuy nhiên, cả Fortuner V 2WD và Pajero Sport chỉ sử dụng bóng halogen thường.

Hai sản phẩm đều trang bị những chức năng cơ bản như đèn phanh trên cao, cảm biến lùi. Fortuner có cánh lướt gió sau trong khi Pajero Sport không có chi tiết này. Fortuner thiết kế đèn xi nhan tích hợp trên gương, còn Pajero Sport lại để bên sườn xe.

Fortuner và Pajero Sport sử dụng la-zăng 17 in nhưng cỡ lốp lại khác nhau và có thông số cụ thể lần lượt là 265/65 R17, 245/65 R17. Do chiều rộng lốp xe lớn hơn tới 20 mm nên dẫn đến cả chiều cao của lốp cũng lớn hơn. Vì vậy, trông Fortuner vẫn hầm hố hơn và đó là một yếu tố làm tăng độ bám đường cho xe. Nhưng ngược lại, do có khoảng sáng gầm xe thấp hơn nên Pajero Sport lại có trọng tâm tốt cùng độ ổn định thân xe.

Đánh giá: ngang tài ngang sức

Nội thất, tiện nghi

Nhờ sử dụng chất liệu gỗ ốp lên bảng điều khiển trung tâm và trên cánh cửa nên không gian nội thất của Pajero toát lên vẻ sang trọng hơn Fortuner. Mặc dù cả hai sản phẩm này đều sử dụng hệ thống điều hòa nhưng cơ cấu điều khiển lại khác biệt nhau. Ở Fortuner là dùng hệ thống phím để thay đổi các chức năng và có mà hình điện tử hiển thị đa thông tin như nhiệt độ, chế độ cửa gió… còn ở Pajero Sport lại tích hợp vào 3 núm xoay có thiết kế đẹp nhưng không có màn hình hiển thị thông tin. Điểm cộng ở hai sản phẩm này là đều sử dụng hệ thống điều hòa 2 dàn lạnh, hệ thống cửa gió bố trí cho cả 3 hàng ghế tạo ra bầu không khó thoáng mát khi xe chở đủ 7 người.

Không gian nội thất Pajero Sport G sang trọng hơn Fortuner 2.7 VVT-i 2WD

Đồng hồ công-tơ mét Forutner (trái) có thiết kế hiện đại trong khi của Pajero Sport vẫn giữ kiểu thiết kế của thế kỷ trước

Trong khi bảng đồng hồ tốc độ, đèn báo của Fortuner trông hấp dẫn hơn với màu xanh mát mắt thì của Pajero Sport lại quá đơn điệu khi sử dụng kiểu thiết kế từ những năm 90 của thế kỷ trước.

Do có chiều ngang thân xe nhỏ hơn nên không gian sử dụng nội thất của Pajero Sport nhỏ hơn Fortuner, cụ thể ở hàng ghế thứ nhất, vị trí bên phụ, người ngồi không có được tầm duỗi chân thoải mái như trên Fortuner.

Không gian duỗi chân của Pajero Sport (trái) không thoải mái bằng Fortuner (phải)

Nhìn chung, nếu xét không gian ở cả 3 hàng ghế thì Toyota chiếm ưu thế hơn vì có kích thước ngang tổng thể lớn hơn. Nhưng việc thao tác sắp xếp các hàng ghế thứ 2,3 ở Pajero Sport lại dễ dàng hơn do kích thước ghế nhỏ và cơ cấu lẫy gài chỉ cần sử dụng lực ít hơn.

Pajero Sport có lẫy chuyển số sau vô lăng và sử dụng hộp số tự động 5 cấp trong khi Fortuner 2.7 2WD được trang bị hộp số tự động 4 cấp.

Các hàng ghế thứ 2 và 3 ở hai sản phẩm đều lần lượt tùy biến được theo các tỷ lệ 60/40 và 50/50 nhưng ở Pajero Sport có thể tạo được sàn phẳng còn Fortuner thì không làm được điều đó. Lý do vì hàng ghế thứ 3 của Fortuner khi gập lại phải treo lên kiểu đặc trưng ở các dòng xe đa dụng của Toyota. Hơn nữa, thao tác gập, treo hàng ghế thứ 3 của Toyota tốn khá nhiều sức, thậm chí còn phải trèo cả lên sàn cốp xe mới treo lên được. Như vậy, Pajero Sport tận dụng được tối ưu không gian khi cần chở đồ hơn Fortuner.

Phải nhảy cả lên sàn sau mới treo được ghế của Fortuner (trái), Pajero (phải) tạo sàn phẳng tốt.

Hai sản phẩm có nhiều tiện nghi tương đồng

Tại vị trí lái, cả 2 sản phầm đều có nhiều nét tương đồng kể cả về chức năng và cách sắp xếp vị trí như ghế lái điều khiển điện, vô lăng bọc gỗ, chức năng điều khiển hệ thống audio tích hợp trên vô lăng. Nhưng ở chức năng lên xuống kính, Fortuner hơn Pajero Sport ở điểm là kính lái có chức năng chống điện và điều khiển lên xuống chỉ cần 1 chạm. Pajero Sport sử dụng vô lăng 3 chấu cùng cần số có kích thước to còn Forutner có vô lăng 4 chấu và chiếc cần số mảnh khảnh khá giống với sản phẩm Altis.

Đánh giá: 1. Fortuner, 2. Pajero Sport G

Động cơ, hộp số

Fortuner vẫn sử dụng động cơ I-4 2.7L VVT-i và hộp số tự động 4 cấp giống hệt động cơ của phiên bản Fortuner đời trước. Động cơ này có công suất 118 kW tại 5.200 vòng/phút và mô-men xoắn 241 Nm tại 3.800 vòng/phút.

Pajero Sport, phiên bản G được trang bị động cơ V6 3.0 MIVEC, phiên bản 1 cầu (2WD) và hộp số tự động 5 cấp. Động cơ này tạo ra công suất cực đại lên tới 164,5 kW tại 6.250 vòng/phút hơn tới 46,5 kW so với động cơ I-4 2.7L VVT-i của Fortuner. Chưa hết, hộp số của Pajero Sport có cả chức năng số thể thao và lẫy chuyển số trên vô lăng. Đây là một trang bị tương xứng với cái tên Pajero Sport và thật tiện dụng cho việc vượt dốc, đổ đèo.

Đánh giá: 1. Pajero Sport G, 2. Toyota Fortuner

Khả năng vận hành và trang bị an toàn

Những thông số được nêu ở trên khiến Fortuner khó có thể so sánh về khả năng tăng tốc với Pajero Sport được. Cụ thể, ở chế độ đề pa hoặc khi tăng tốc, người lái đều phải đẩy ga lên từ từ, đúng theo kiểu các bác tài già thường nói “lái xe này thì phải biết nuôi ga, bởi nếu cứ “to chân” mà đạp thì xăng bao nhiêu cho đủ”. Cảm nhận về vô-lăng là dễ dàng điều khiển nhẹ, tuy nhiên, nó lại thiếu đi phản hồi thực từ mặt đường.

Với Pajero Sport, khi đạp lút chân ga, lập tức tiếp lốp miết ken két trên mặt đường, xe vọt lên tức thì. Vô lăng điều khiển của Pajero cũng cho cảm giác tốt hơn Fortuner.

Kiểm nghiệm trên thực tế, Pajero có khả năng slalom tốt hơn nhiều Fortuner ở tốc độ 60 km/h. Khi bám cua ở tốc độ 80 km/h, Pajero cũng chiếm lợi thế hơn hẳn.

Pajero Sport thách thức Fortuner ở những pha ôm cua tốc độ cao

Đối với dòng xe gầm cao, góc thoát và khoảng sáng gầm xe là yếu tố quan trọng để đánh giá sản phẩm đó. Toyota Fortuner có góc thóa trước/sau/góc vượt đỉnh dốc: 30/20/23 độ còn Pajero Sport là 36/25/23 độ. So sánh toán học con số trên cho thấy, mặc dù khoảng sáng gầm xe của Fortuner cao hơn Pajero Sport là 0,5 mm nhưng góc thoát lại nhỏ hơn. Vì vậy, Pajero Sport có trọng tâm thấp sẽ có lợi thế khi bám cua, đồng thời góc thoát tốt lại vượt chướng ngại vật tốt hơn.

Pajero Sprot có góc thoát trước/sau lớn hơn Forutner

Mặc dù có khoảng sáng gầm xe lớn hơn Pajero Sport nhưng góc thoát trước/sau của Fortuner lại nhỏ hơn.

Trong khi Pajero Sport sử dụng cơ cấu phanh đĩa ở cả 4 bánh thì Fortuner chỉ trang bị cơ cấu phanh đĩa ở 2 bánh trước, còn 2 bánh sau vẫn là phanh tang trống. Khi phanh, cảm giác của Pajero Sport mang lại tốt hơn.

Bên cạnh đó, có một điểm quan trọng mà Fortuner không có được như Pajero Sport. Hệ thống phanh của Pajero Sport có trang bị công nghệ phân phối lực phanh điện tử EBD, hệ thống này có chức năng kiểm soát độ trượt tới từng bánh xe độc lập. Fortuner chỉ sử dụng van phân phối kiểu cơ khí kiểu cũ.

Vì lẽ đó, hiệu quả hoạt động của ABS và hệ thống phanh của Fortuner khó bì với Pajero Sport. Tất nhiên, đó là trong trường hợp di chuyển với tốc độ cao từ 80 km/h trở lên thì mới thấy rõ được. Người viết bài cũng mạo muội đưa ra phỏng đoán lý do vì sao mà Toyota chỉ trang bị động cơ công suất thấp cho Fortuner nhằm cân bằng giữa khả năng vận hành và tính năng an toàn. Những việc như thế, Toyota vẫn luôn có giải pháp rất khéo léo.

Đánh giá: 1. Pajero Sport, 2. Toyota Fortuner

Giá bán, thương hiệu

Xét về mặt thương hiệu, Toyota rõ ràng vẫn hùng mạnh hơn Mitsubishi. Tại Việt Nam, Toyota đã tạo được thương hiệu với những chiếc xe bền bỉ, chi phí sử dụng thấp. Cùng với đó là hệ thống đại lý bán hàng rộng khắp cả nước. Điều này cũng một phần lý giải được vì sao có sự chênh lệch lớn về doanh số mục tiêu mà Toyota đặt ra là 560 xe/tháng (3 phiên bản) còn Mitsubishi là 100 xe/tháng (cho cả 3 phiên bản).

Tại Việt Nam, Toyota Fortuner 2.7 VVT-i 2WD có chiếm ưu thế về mặt thương hiệu và giá bán so với Pajero Sport G.

Giá bán cũng là một yếu tố tiên quyết tới việc bán hàng, Fortuner 2.7 VVT-I 2WD bán với giá 924,000,000 VNĐ thấp hơn giá bán Pajero Sport (995,725,500 VNĐ, đã bao gồm VAT).

Đánh giá: 1. Fortuner, 2. Pajero Sport G

Kết luận

Một sản phẩm trước khi tới tay người tiêu dùng đều phải qua kiểm định đạt chất lượng mới được đưa vào thị trường. Điều đó càng khắt khe hơn đối với những sản phẩm mang tính cộng đồng cao là chiếc ôtô. Những so sánh trên đây, hy vọng giúp bạn có thêm thông tin hữu ích trước khi mở hầu bao để sắm cho mình một sản phẩm ưng ý.

Thông số kỹ thuật

Lê Hùng (theo PLXH)