Từ giữa thập niên 1980 cho đến nay, nghệ thuật Việt Nam chịu sự “dòm ngó” của thị trường nước ngoài, và có lẽ còn lâu mới thoát được sự lệ thuộc này. Theo kinh nghiệm và lịch sử hội họa của thế giới, nếu không xây dựng được thị trường nội địa, không chỉ nghệ thuật bị chảy máu, mà còn tiềm tàng nguy cơ bị “nô lệ” về xu hướng nghệ thuật và bản lĩnh thẩm mỹ.

Bao giờ tranh Việt triệu đô? Chưa cần nói đến những cường quốc văn hóa như Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc, Ấn Độ… đã phải bỏ rất nhiều tiền để sưu tập lại tác phẩm của nước mình, mà trước đó đã bị bán đi ào ạt. Các nước nhỏ hơn như Pakistan, Colombia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia… cũng đã làm như vậy. Điều này phần nào cắt nghĩa tại sao thế hệ họa sĩ 6x, 7x của Indonesia đã có vài người đạt tới tầm “họa sĩ triệu đô”. I Nyoman Masriadi (1973, Indonesia), người mà cách đây khoảng 5 năm, giá tranh trung bình vào khoảng 20 ngàn USD, nhưng do “sự ưu chuộng” và sự tự “làm giá/ nâng giá” của thị trường nội địa, hiện nay giá trung bình vào khoảng 300 ngàn USD, gấp 15 lần - vài bức vượt qua 1 triệu USD tại các phiên đấu giá quốc tế. “Có vẻ như thị trường nghệ thuật hiện tại ở Việt Nam vẫn chủ yếu hướng tới khách hàng nước ngoài và những nhà sưu tập riêng lẻ. Một vài trong số những người nước ngoài đang sưu tập một cách cực đoan, nhưng hầu hết người mua chỉ tìm kiếm để trang trí các bức tường của họ. Những nhà sưu tập cực đoan và nghiêm trọng này sẽ tạo thành những nhóm độc quyền, sẽ làm hạn chế, bóp méo sức sống của thị trường nội địa”, nhà kinh doanh nghệ thuật Jorn Middelborg - chủ phòng tranh Thavibu, Bangkok, Thái Lan, cho biết. Tác phẩm Mấy phụ nữ ngồi quanh đống lửa (sơn dầu trên bố, 54x74cm, 1957) của Tạ Tỵ (1921-2004) từng được rao bán với giá khởi điểm 7.000 euro nhưng không có người Việt lộ danh tính nào mua. Xét về lịch sử hội họa Việt Nam, tác phẩm này rất quan trọng, là một trong những chứng cứ cho thấy kỹ thuật trừu tượng đã được sử dụng vào cuối thập niên 1950. Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp từng tâm sự: “Việc xây dựng một thị trường tranh nội địa cũng là một vấn đề nhức nhối, bởi muốn nghệ thuật phát triển thì cần phải có sự quan tâm của chính người dân bản địa, vì chính họ là tác nhân quan trọng để giữ gìn và quảng bá nghệ thuật của người Việt. Việc không có thị trường nội địa sẽ làm chậm sự công nhận ở quốc tế đối với nghệ thuật Việt Nam”. Gần đây nhiều ý kiến cho rằng không ít người trong giới họa sĩ trẻ Việt Nam nhái ý tưởng, thậm chí sao chép bố cục, cách dùng màu… của trào lưu pop art, của các họa sĩ Trung Quốc, Indonesia… Thật ra thì việc sao chép (tự thân và lai tạo) đã có từ thời mới diễn ra việc mua bán tác phẩm, có vài họa sĩ phất lên do bán tranh. Tại sao có điều này? Đơn giản thôi, vì chưa có thị trường nội địa và còn lâu mới có thị hiếu nội địa để kiềm giữ, “định hướng”, nên hội họa trong nước bị lệ thuộc xu hướng hay phong cách nước ngoài, cũng là điều đương nhiên. Vì không vẽ giống thiên hạ, sợ không bán được, nên chấp nhận “nô lệ” về nhiều mặt. Chính sự lệ thuộc và nô lệ này cũng là nguồn cơn của nạn tranh chép, tranh giả tràn lan. Bán đi, mua về… “Việc mở các phòng tranh ở nước ngoài, qua đó các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam được quốc tế đánh giá khách quan, tích cực, sẽ là một cú hích với thị trường nội địa. Thị trường tranh Trung Quốc trước đây cũng chưa được đánh thức, và những người đánh thức chính là từ hải ngoại. Điều ấy cũng xảy ra ở Ấn Độ, Pakistan hoặc Colombia... Tôi hi vọng với Việt Nam cũng vậy”, trong một bài phỏng vấn, ông Ngô Tấn Trọng Nghĩa (chủ phòng tranh Apricot) trả lời. Việc bức Chiều tà (sơn dầu, 35x46cm, 1915) của vua Hàm Nghi được bán với giá phải chăng nhưng không được một danh tính công khai nào ở Việt Nam mua có thể xem là một minh chứng cho sự thiếu thị trường nội địa. “Tôi chỉ hơi băn khoăn, xót xa nếu mình bán hết tranh đẹp ra nước ngoài thì sau này muốn tìm xem lại, thật khó khăn và tốn kém. Chứ việc người nước ngoài chiếm đa số thị phần về thị trường nghệ thuật Việt Nam, có khi, cũng là điều tốt. Vì nếu họ không thích, không mua mình từ mấy thập niên qua, tôi e rằng, diện mạo mỹ thuật chúng ta hiện nay đã khác, vẽ để tuyên truyền thì đã mệt mỏi, mà vẽ để cho mình hoặc hướng ra nước ngoài thì không có nhiều cơ hội. Bằng chứng nhiều nước vẫn còn đóng cửa với thế giới về nghệ thuật, không phải do họ bảo thủ, mà do nước ngoài không dòm ngó đến. Mua bán là một chất xúc tác quan trọng. Cho nên, trong một quy luật có tính xoay chiều, mình chịu ảnh hưởng của thiên hạ về cách vẽ, thì thiên hạ cũng ảnh hưởng mình trong cách mua”, nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn nhận định. Ông Jorn Middelborg thì phân tích: “Điều gì cũng cần có thói quen, mua bán nghệ thuật cũng thế. Khi những người nước ngoài mua hoài tranh của một nước nào đó, những người có điều kiện ở nước đó chắc chắn sẽ tò mò, thắc mắc. Khi họ được trả lời rằng tranh không chỉ để trang trí, treo tường, mà còn là sự đầu tư về tài chính có tương lai, thì họ sẽ mua. Người có quan tâm đến nghệ thuật thường có xu hướng thu thập tác phẩm của nghệ sĩ nước mình, tôi tin điều này đang và sẽ xảy ra ở Việt Nam. Nó có thể cần thêm một thời gian nữa, trước khi thị trường nghệ thuật nội địa phát triển đầy đủ”. Tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) thường được sao chép khá nhiều, đến mức khó phân biệt thật giả. Cho nên tác phẩm Chơi ô ăn quan (bột màu và mực in trên lụa, 54,5x43cm, 1931) khi lên sàn chỉ có giá khởi điểm 6.000 euro, kết quả bán được 72.000 euro, thấp hơn giá “lưu truyền” ở trong nước. Trong khi chờ ngày ló dạng của thị trường nội địa, có một nguy cơ rất lớn rằng nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam sẽ không còn tác phẩm hiện đại. Vì đến nay, qua sự ta thán của nhiều nhà môi giới, cho thấy phần lớn tranh có tuổi đời từ năm 1975 trở về trước đã thuộc các bộ sưu tập ở nước ngoài. Phần còn lại thuộc các nhà sưu tập cực đoan, nghĩa là thấy gì cũng mua, mà không bán; một phần thuộc các bảo tàng. Những tác phẩm còn lưu thông, phần nhiều thuộc nhóm tác phẩm giả như thật; hoặc khó xác minh thật giả; hoặc không tiêu biểu. Riêng mỹ thuật đương đại, như đã nói, thì quá nhiều lai căng, khó phân biệt biên giới. Một thực tế nữa là khi không có thị trường nội địa và các định chế văn hóa, định chế tài chính rõ ràng thì rất khó để nâng giá tác phẩm nội địa. Ban đầu, có những ý kiến cho rằng giá thấp thì có lợi cho người mua, nhưng xét lại, giá thấp có mấy cái hại: 1) những tác phẩm quan trọng khi rao bán đã dễ dàng tìm được người mua ở nước ngoài, nên tác phẩm đẹp đã “chảy máu” gần hết; 2) chỉ trong một thời gian ngắn (khoảng 10 năm, từ khoảng 1985 cho đến 1995), “ngân sách” tác phẩm thời kỳ đầu (tạm tính từ 1975 trở về trước) không còn nhiều, mà tiền thu về chẳng bao nhiêu, nên đâm ra làm nhái, làm giả; 3) ngay các bậc thầy còn sống thời đó, dù bán tranh được, nhưng cũng không đủ cho một đời sống tương đối thong thả, chứ đừng nói giàu, nên bản thân cũng khó giữ được tác phẩm và phẩm hạnh, thành ra thỏa hiệp nhiều thứ; 4) khi quá khứ bán tranh (có nhiều tranh giả) với giá rẻ, thì tương lai, như thế đánh “mã hồi thương”, các thế hệ hậu bối muốn sở hữu lại tranh của cha ông, dù trả một số tiền cao hơn, nhưng thường nhận về tranh giả với giấy chứng nhận “thật” do chính người bán thời trước làm ra. Đúng là há miệng mắc quai. Văn Bảy