Việc các DN liên tục đề xuất được khai thác cơ sở hạ tầng (CSHT) như: sân bay, đường cao tốc, cảng biển gần đây cho thấy sức hấp dẫn của lĩnh vực này. Tuy nhiên, ở Việt Nam, từ chủ trương đến thực tế vẫn còn vướng mắc bởi đây đều là những trường hợp chưa có tiền lệ.

TS. Nguyễn Đức Kiên

Phóng viên TBNH đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Thưa ông, quá trình hiện thực hóa chủ trương cho các DN tư nhân tham gia khai thác CSHT còn vướng mắc ở đâu?

Trước tiên phải khẳng định rằng, chúng ta đã đặt vấn đề nhượng quyền khai thác các DNNN từ những năm 90, khi có nghị định giao, bán, khoán, cho thuê DNNN. Nhưng mới chỉ áp dụng ở những DN nhỏ, không liên quan đến quốc phòng an ninh. Bây giờ, đất nước đổi mới rồi, tất cả điều kiện đã thay đổi nên chúng ta tiến lên một bước thực hiện bán quyền khai thác những cơ sở lớn, có liên quan tới vấn đề quốc phòng an ninh.

Đây là nét tiến bộ trong cả nhận thức xã hội lẫn hệ thống điều hành nền kinh tế, cũng như chứng minh công cuộc đổi mới có thành tựu thì nhà đầu tư mới quan tâm tới các lĩnh vực này. Vấn đề đặt ra là chúng ta chưa bao giờ có tiền lệ về công tác quản lý Nhà nước đối với một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đặc biệt lại liên quan đến quốc phòng an ninh. Vướng mắc chỉ là ở chỗ đó mà thôi.

Chúng ta quy định Nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phần tại một số cảng, trong khi NĐT lại muốn sở hữu với tỷ lệ cao hơn, như trường hợp Cảng Hải Phòng. Vậy phải giải quyết vấn đề này như thế nào?

Những quy định đó được đặt ra trong quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, quy định như thế để cho nền kinh tế không bị sốc. Vì nhận thức là cả một quá trình. Cho nên, nếu chúng ta để chuyển ngay như các nước Đông Âu hay Trung Âu, sáng ngủ dậy đã thấy DN của mình thuộc về một ông nào đó và ông ấy tuyên bố đóng cửa nhà máy, sa thải công nhân thì không thể được. Trước đây, chúng ta phải quy định để tránh tình trạng đó, để quá trình chuyển đổi diễn ra dần dần.

Nhưng đến thời điểm hiện nay thì vấn đề Nhà nước giữ 51% cổ phần đã không còn có ý nghĩa nữa, bởi vì xã hội đã thay đổi tư duy phù hợp hơn và tình hình thực tế đất nước đã chuyển biến theo hướng có lợi hơn. Cho nên, những quy định để phòng ngừa, sử dụng liệu pháp tránh gây sốc này đã hết vai trò lịch sử của nó thì chúng ta phải bỏ. Thực tế là bây giờ cũng đã bỏ, được quy định rõ trong Luật DN và Luật Đầu tư là chỉ có 5 ngành, lĩnh vực Nhà nước nắm giữ, còn lại là nhường cho các thành phần kinh tế khác.

Có ý kiến lo ngại rằng, khi cho tư nhân tham gia khai thác có thể họ sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng các công trình hạ tầng này. Ý kiến của ông như thế nào?

Tất cả lo toan này, theo tôi là "lo bò trắng răng". Chúng ta đã biết người ta bán như thế nào, điều kiện kèm theo ra sao đâu mà phải lo. Như trường hợp cổ phần hóa một số bến cảng, kể cả khi cổ phần hóa xong, DN nắm quyền chi phối thì theo Luật Đất đai 2013 DN chuyển mục đích sử dụng đất phải do Nhà nước quyết định. Nhà nước cấp cho DN mặt nước hay mặt đất đó để DN làm việc này. Còn khi DN không làm nhiệm vụ này nữa thì Nhà nước thu hồi lại. Mục đích sử dụng miếng đất đã được luật hóa.

Mục đích sử dụng nhiều công trình đã không còn phù hợp thực tế. Như việc lưu chuyển hàng hóa của Cảng Hải Phòng đã không còn mang lại hiệu quả cao. Vậy chúng ta có chấp nhận cho DN chuyển đổi mục đích sử dụng?

Chính vì hiểu rằng vai trò của Cảng Hải Phòng đã kém hiệu quả, chúng ta mới vay vốn ODA để xây dựng Cảng Lạch Huyện. Bởi vì khi xây dựng Cảng Hải Phòng cách đây 2 thế kỷ thì người Pháp vẫn dựa trên trình độ khoa học công nghệ của thế kỷ 19 đầu 20, và chúng ta xây dựng cảng đó với tư duy, tầm nhìn của thế kỷ 19. Tức là phải đưa cảng vào nội địa để giảm tác động của thiên nhiên. Nhưng đến giờ, khi khoa học công nghệ đã phát triển với những tàu to hơn thì người ta phải đẩy cảng ra ngoài sát biển hơn để giảm chi phí và nạo vét luồng, tạo ra luồng mới.

Như vậy, Cảng Hải Phòng lùi vào sông Cấm thì trong vòng 20 năm nữa nó sẽ giảm dần vai trò hiện nay. Vậy thì từ một cảng lớn của khu vực phía Bắc nó sẽ dần dần nhường vai trò đó cho Lạch Huyện. Khi đó, phần đất ở đây có thể sử dụng để xây dựng thành phố 2 bờ sông, hay cảng du thuyền là bình thường. Nhìn rộng ra chúng ta phải thừa nhận sự thay đổi vai trò của hệ thống CSHT là như vậy.

Liệu đây có phải là những trường hợp điển hình để chúng ta định hình vai trò của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế, thưa ông?

Đây sẽ là bước tiến quan trọng trong nhận thức, đẩy lên tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước đây, chúng ta cứ nghĩ rằng sân bay, cảng biển, đường cao tốc… bất di bất dịch là của Nhà nước. Hiện chúng ta đang tiến đến một bước nhận thức mới, đó là khai thác hạ tầng các công trình này là vai trò của DN, còn quản lý về xuất nhập cảnh, an ninh quốc phòng, thuế… là trách nhiệm của Nhà nước.

Hiểu rộng ra thì thấy tư duy kinh tế Nhà nước chủ đạo là ở chỗ này: Nhà nước bỏ tiền ra đầu tư các cơ sở hạ tầng và giao lại cho các DN khai thác, nhưng Nhà nước vẫn đảm bảo quốc phòng an ninh. Ví dụ về nhượng quyền khai thác các công trình vừa qua là minh chứng rõ ràng về yêu cầu của xã hội phát triển với nhận thức của cơ quan quản lý đã gần chạm đến nhau, cho nên nó sẽ có động lực mới cho sự phát triển.

Xin cảm ơn ông!

Theo TBNH