Chiến thắng Bạch Đằng- mà cũng có thể gọi là kỳ tích Bạch Đằng - được coi là điểm nhớ, nhắc nhở về chiến lược biển đảo, khát vọng vươn ra đại dương thời Lý – Trần. Đó là bài học lịch sử nóng hổi cho thế hệ chúng ta hôm nay để càng gắng công, góp sức bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Và hơn lúc nào hết, trong các hoạt động bảo tồn, cần phải có thái độ ứng xử với Khu di tích Bạch Đằng xứng tầm là di tích quốc gia đặc biệt.

Cọc gỗ Bạch Đằng trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử

Trước tầm quan trọng của di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, Thủ tướng Chính phủ đã ký hai quyết định liên quan đến Khu di tích này. Những quyết định đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho các hoạt động thực tiễn của địa phương trong thời gian tới bao gồm Quyết định số 1419/QĐ –TTg ngày 27/9/2012 xếp hạng Khu di tích lịch sử Bạch Đằng là di tích quốc gia đặc biệt và Quyết định 322/-TTg ngày 18/2/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy Khu di tích lịch sử Bạch Đằng. Đây chính là hai văn bản pháp lý và khoa học mang tính bắt buộc phải thực hiện nhằm bảo tồn lâu dài Khu di tích nói trên.

Trong các mục tiêu của Quy hoạch tổng thể luôn quán triệt quan điểm: bảo tồn khu di tích lịch sử Bạch Đằng, tỉnh Quảng Ninh phải gắn chặt và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là gắn với "hoạt động du lịch. Trong phạm vi bài viết này, xin đặt ra một số nội dung liên quan đến việc xây dựng và triển khai các dự án thành phần cần ưu tiên đầu tư như đã xác định trong Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể của Thủ tướng Chính phủ.

Tiếp tục các hoạt động khảo cổ

Trước hết, Khu di tích lịch sử Bạch Đằng là một trận địa mai phục chặn đường rút chạy, tiêu diệt quân Nguyên - Mông bằng các bãi cọc cắm trên sông, lại trải dài trong hai khu vực bảo vệ và khu vực phục vụ du lịch. Khu vực bảo vệ I: 79,47ha, khu vực bảo vệ II: 114,78ha và khu vực dịch vụ 167,75ha, nhưng hiểu biết của chúng ta về phần cốt lõi – bằng chứng vật chất về nghệ thuật quân sự đánh giặc bằng hệ thống bãi cọc lại chưa thật thấu đáo. Chúng ta vẫn chưa phát hiện được dấu tích vật chất của hàng trăm chiến thuyền cũng như vũ khí của ta và địch đã sử dụng trong cuộc chiến Bạch Đằng. Các kết quả khai quật khảo cổ học ở các bãi cọc Yên Giang, đồng Vạn Muối, đồng Má Ngựa, lưng Mắt Rồng bước đầu chỉ cho phép hiểu một cách tổng quát về chiến trường xưa mà thôi.

Vì thế rất cần tiếp tục đầu tư cho dự án lớn nhằm nghiên cứu, khai quật khảo cổ và sưu tầm tư liệu phục vụ thiết thực nhu cầu dự án bảo tồn và phát huy di tích trong tương lai gần.

Học sinh tham quan bãi cọc Bạch Đằng

Sớm có kế hoạch bảo quản bãi cọc ngoài trời

Kế đó, với tính chất của một trận địa đánh chặn bằng cọc gỗ trên sông chắc chắn sẽ đặt ra yêu cầu phải bảo quản, giới thiệu các bãi cọc đã được phát hiện ngay tại hố khai quật khảo cổ. Chất liệu cơ bản cấu tạo các bãi cọc là gỗ cũng đã trải qua hơn 700 năm chịu tác động của điều kiện khí hậu khắc nghiệt hiện đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

Rõ ràng là phải có một đề tài nghiên cứu khoa học bảo quản di vật chất liệu gỗ ở ngoài trời. Những biện pháp kỹ thuật hiện được áp dụng chỉ mang tính chất bảo quản tạm thời mà yêu cầu kỹ thuật bảo quản lại vượt quá khả năng và kinh nghiệm của Việt Nam. Vì thế, việc bảo quản các cọc gỗ trong điều kiện ngập nước và khí hậu nhiệt đới, độ ẩm rất cao rất cần có sự hợp tác quốc tế và liên ngành.

Với khu vực rộng hàng trăm ha và hầu hết các dấu tích chiến trường xưa hiện đang bị vùi lấp trong lòng đất dưới dạng tiềm năng khảo cổ học, về cơ bản di tích lịch sử Bạch Đằng vẫn tồn tại dưới hình thức các địa danh lịch sử và các cột mốc văn hóa/các điểm nhớ là những thiết chế tôn giáo tín ngưỡng cùng các nhân vật lịch sử nổi tiếng đã trực tiếp tham gia vào sự kiện lịch sử này.

Để di tích thành điểm đến hấp dẫn

Song trong thực tế, các di sản đó cũng thay đổi quá nhiều qua thời gian, hầu như không bảo tồn được các yếu tố nguyên gốc lúc khởi dụng. Thực tế trên đặt ra yêu cầu phải áp dụng nguyên tắc tôn tạo di tích với hai mục tiêu cơ bản. Một mặt, loại bỏ những yếu tố được bổ sung qua các giai đoạn phát triển không mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học trong các di tích mà còn làm suy giảm hoặc che khuất các yếu tố nguyên gốc có giá trị của di tích. Mặt khác, thiết lập các điều kiện vật chất, kỹ thuật bảo vệ di tích, tạo lập các cơ sở dịch vụ cần thiết làm cho di tích trở thành một sản phẩm du lịch – văn hóa độc đáo, có sức hấp dẫn cho khách du lịch cũng như cộng đồng cư dân địa phương.

Việc tu bổ, tôn tạo thành công khu vực bến đò cổ, đền thờ Vua Bà và đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu vực trung tâm của di tích cũng là theo hướng nói trên.

Cùng với đó, cần tập trung xây dựng các dự án mang tính chất liên ngành và đa ngành, xác định rõ các ý tưởng sáng tạo văn hóa và khả năng phát huy mang lại nguồn lợi kinh tế để khuyến khích các khu vực tư nhân đầu tư các dự án tôn tạo và phát triển du lịch trong khu vực quy hoạch. Bằng phương thức đó, chúng ta có thể huy động nhiều nguồn lực xã hội cùng Nhà nước triển khai các dự án thành phần đã vạch ra trong quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, các quy hoạch bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chỉ được triển khai có hiệu quả trong đời sống xã hội khi có một cơ quan quản lý di tích đủ mạnh với đội ngũ cán bộ khoa học có năng lực hoạt động thật chuyên nghiệp. Ban Quản lý các di tích trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh đã nỗ lực hoạt động để xây dựng quy hoạch tổng thể trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là một bước tiến lớn. Nhưng để hiện thực hóa các nội dung của quy hoạch, UBND thị xã Quảng Yên nên thành lập một cơ chế tổ chức phù hợp và đủ mạnh để quản lý có hiệu quả di tích quốc gia đặc biệt – Khu di tích lịch sử Bạch Đằng.

PGS.TS Đặng Văn Bài