Một sáng Chủ nhật đẹp trời, tôi được nhóm sinh viên ở nhà trọ gần nơi tôi ở rủ đi uống cà phê và đặt câu hỏi:

Ngay xua, sao la thu khong vang - Anh 1

(Ảnh: CTV)

Khi ông nhạc sĩ viết lời bài hát là: “Ngày xưa, sao lá thu không vàng” là có ý muốn nói gì.

Tôi thấy cũng hơi bí, liền học mẹo của các nhà lãnh đạo từ cổ chí kim đều đã sử dụng, bằng cách hỏi lại người đã hỏi:

Thế theo ý các em, nhạc sĩ ấy định nói gì?

Lập tức có nhiều ý kiến phát biểu:

- Ngày xưa, không khí trong lành, môi trường không ô nhiễm, nên lá thu không vàng.

- Không đúng, lá vẫn phải vàng, phải rụng nhưng chậm hơn bây giờ. Ông nhạc sĩ viết như vậy để ca ngợi mùa thu đẹp đẽ, nhất là ở châu Âu…

­Thôi, thôi, để cho chú An (tức là tôi) giải đáp xem sao.

Trong đầu tôi, nhờ có những phát biểu “thoáng” của các bạn trẻ vừa nói gợi ý, nên thong thả, trầm ngâm:

- Theo tôi “Ngày xưa, sao lá thu không vàng” là có ý luyến tiếc, có ý xót xa nhớ lại một thời tốt đẹp đã đi qua mà thôi.

Các bạn trẻ có vẻ háo hức chờ đợi. Tôi liền mạnh dạn trao đổi với các bạn sinh viên yêu thích văn học một số ý sau đây.

1. Ngày xưa trong tâm tưởng con người bao giờ cũng đẹp đẽ, bao giờ cũng đáng nhớ:

Hàng đêm, cứ đến giờ cho các bé đi ngủ, hàng triệu triệu trẻ em, tay thì nắm chặt bàn tay bố mẹ, anh chị, những người sẽ kể chuyện cổ tích ru em vào giấc ngủ mơ màng, đôi mắt mở to nhìn người kể chuyện để rồi khép lại từ từ êm ái, và đặc biệt đôi tai xinh xắn kia bao giờ cũng phải được nghe hàng trăm lần khúc dạo đầu nhẹ nhàng lôi cuốn:

­Ngày xửa, ngày xưa, có một cô công chúa...

­Ngày xửa, ngày xưa, có một chàng hoàng tử...

Ngày xửa, ngày xưa, có một mụ phù thủy…

Và thật kỳ lạ, tiếng Việt, tiếng Pháp (Il était une fois), tiếng Anh (once upon a time) và tất cả các ngôn ngữ khác, cũng đều bắt đầu bằng câu: “Ngày xửa, ngày xưa, đã lâu lắm rồi…” để ru ngủ cho các thiên thần nhỏ, để “ru em bé vào đời”.

Trong các sách tâm lý học cấp cao, các tác giả đã thuật lại những ngày xưa tươi đẹp, thanh bình, êm ả chốn quê nhà, trong vòng tay mẹ ấm áp còn vương mùi sữa đều trở lại trong tâm tưởng con người trong các trường hợp sau đây:

Người lính trước khi hy sinh vì đất nước, ai cũng ứa nước mắt, khẽ thầm gọi: Mẹ ơi, mẹ ơi.

Người bệnh trong lúc mê sảng ú ớ kêu rên không thành tiếng khi được cứu chữa tỉnh lại, đều kể rằng mình vừa mới thấy về quê thả diều, hôm nay lộng gió, diều bay cao, thích quá.

­Người tù bị án tử hình, trước giờ ra đi đều dặn lại bạn tù hay viết trong nhật ký nỗi nhớ quê hương, nhớ bạn chăn trâu cắt cỏ, nhớ mẹ nhớ bà.

­Cứ sắp đến ngày giỗ cha, mẹ người con thường nằm mơ thấy ngày xưa, thấy quê xưa, thấy nơi cha mẹ dắt tay mình đi chợ phiên, chợ tết, cho ăn bánh, ăn kẹo, mua quần mới, áo mới.

2. Ngày xưa con người được dạy cách học làm người nhiều hơn dạy cách kiếm tiền:

• Học ăn, học nói, học gói, học mở:

Tất cả các nội dung hoạt động của một đời người, từ lúc đi học mẫu giáo, vỡ lòng đến lúc tuổi già thực ra chỉ có 4 nội dung: Học ăn, học nói, học gói, học mở.

­- Học ăn:

Ăn là hoạt động cơ bản nhất của con người để tồn tại và phát triển. Vì thế nên phải học cách ăn thật kỹ lưỡng.

Người Pháp xưa dạy: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn” (Il faut manger pour vivre, ne pas vivre pour manger). Ý nói: Không nên lấy việc ăn uống làm mục đích hoặc thú vui trong cuộc đời.

Người Việt xưa dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Ý nói: Phải nhìn nồi cơm còn hay sắp hết, nhìn những người cùng mâm, để liệu xem có nên ăn nữa hay nên đứng dậy thì thuận hơn.

Lại dạy:

“Ai ơi bưng bát cơm đầy,

Rẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”.

Với ý muốn giáo dục con người phải biết quý trọng người nông dân vất vả, hai sương một nắng, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, mới sản xuất ra được hạt thóc, hạt cơm. Khi ăn miếng cơm phải biết ơn người trồng trọt. Phải tiết kiệm từng miếng ăn, không lấy thức ăn thừa thãi rồi bỏ đi rất lãng phí. Ở Singapore, ở Trung Quốc khách vào ăn Búp phê lấy thức ăn ra đĩa thừa thãi không ăn hết, sẽ bị phạt.

- Học nói:

Trước kia, do được ảnh hưởng giáo dục phương Tây, trong trường học, trong gia đình, ngoài chỗ đông người, tránh nói chữ “chết” (never say die).

Thời xưa, ông giám đốc đi qua phòng thường trực thấy đồng hồ hết giây cót, không chạy, liền nghiêm túc phê bình ông bảo vệ: “Ai lại lười thế, lên giây đồng hồ cho chạy ngay, để mọi người đến làm việc còn biết giờ”.

Ngày nay, bà Tiến sĩ, cán bộ giảng dạy Đại học, ngủ quên, chợt tỉnh dậy nhìn thấy đồng hồ báo thức không chạy, hét toáng:

Chết tôi rồi, hết pin từ bao giờ không biết nữa, muộn mất rồi còn gì, đồng hồ chết tắc từ bao giờ mà không biết.

- Học gói:

Tức là quá trình học tập, học hỏi từ gia đình, từ trường học, từ xã hội, các kiến thức phổ thông rồi đại học, kiến thức nghề nghiệp để có công việc làm kế sinh nhai, học kiến thức xã hội, học văn hóa để biết cách làm người.

Thời xưa có câu “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” (Nhất tự vi sư, bán tự vi sư) nên người học trò thành đạt được, coi người thầy như người cha thứ hai. Người học trò nguyện “sống tết, chết giỗ” đối với thầy để tỏ lòng tôn kính, hiếu thuận.

Ngày nay, có trường hợp người nghiên cứu sinh sau khi đỗ đạt, nói rằng đã trả ơn thầy bằng cái phong bì dầy thỏa đáng, chả việc gì phải ơn nghĩa cho nặng nề ra. Thế là sòng phẳng, thế là cưa đứt đục suốt.

- Học mở:

Tức là học cách triển khai các công việc hàng ngày, sao cho thấu tình đạt lý, sao cho hợp với “Đạo đức và pháp luật” như lời dạy của Jean Jacques Rousseau.

Thí dụ: Con người là vốn quý. Được có mặt trên cõi đời là một hân hạnh đặc biệt. Thế mà có lúc phải chia ly, xa cách đồng loại, ta nên bày tỏ lòng kính trọng và nghiêm cẩn khi gặp đám tang, đám hiếu. Nếu ở ngoài đường, ta đứng dẹp vào một bên nhường chỗ cho đám tang. Nếu ta đi đưa đám phải ăn mặc chỉnh tề, nên mặc áo sơ mi trắng quần thẫm mầu. Đi trong hàng phải im lặng, kính cẩn không ồn ào.

Rất tiếc hiện nay, khi đi dự các đám tang, đám hiếu để chia tay bạn bè, đồng đội, các vị lão thành…, ta thấy hàng ngũ lộn xộn, mặc cả áo thun, quần soóc. Cười nói ồn ào không giữ đúng trang nghiêm của buổi chia tay.

Gặp đám tang đi ngang đường, có người vẫn chỉ chỏ, cười nói thiếu ý thức văn minh.

Việc ma chay (việc hiếu), việc cưới xin (việc hỷ) trước kia tuân theo đúng lễ nghi, đơn giản, long trọng, tiết kiệm, thực chất.

Ta xem trong lịch sử thấy có các vĩ nhân hay trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có nhiều tấm gương tốt, đã có nhiều đám cưới rất tranh thủ, rất đơn giản nhưng đã tạo được hạnh phúc lâu dài làm gương cho con cháu học tập. Trong kháng chiến và những ngày chống Mỹ, ta quen gọi là đám cưới nếp sống mới, thậm chí còn động viên bằng khẩu hiệu: “Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ”. Ngày xưa, ít có ly dị, ít có đổ vỡ gia đình dễ dàng như hiện nay.

Ngày nay nhiều đám cưới linh đình bày vẽ, tốn kém, lố bịch sinh ra nợ nần khổ cho cả hai họ, nhất là cô dâu, chú rể. Họ sẽ phải “kéo cày trả nợ” đến bao giờ cho xong. Nhiều địa phương đã sớm nhận thức được điều này nên đã tổ chức rất hay, rất vui, thậm chí tổ chức liền mấy đám cưới cho các bạn công nhân nghèo lấy nhau, rất đầm ấm, rất hạnh phúc. Trái lại, nhiều địa phương chính quyền bó tay vì họ lý luận: đây là trả nợ miệng, người ta đến ăn cưới, mừng cho con mình, nay đến lượt mình phải đáp lại. Thế là cái vòng xoắn lãng phí lại xảy ra, tổ chức ở thành phố xong lại về quê tổ chức, vất vả vô cùng, mất thì giờ, mất tiền, mất sức. Ngày trước, khi ta vào chơi nhà bạn bè, họ hàng đều chú trọng việc ăn mặc chỉnh tề, giữ gìn lời nói. Nếu chưa gặp được các vị cao tuổi thì ta nên hỏi thăm sức khỏe các vị trước, rồi mới đến các thành viên nhỏ tuổi hơn trong gia đình.

Thí dụ: - Em Lan nhà mình đã đi làm cô giáo được mấy năm rồi, đã có tin vui gì chưa? Ai cũng hiểu ngầm là có người yêu hoặc bạn trai chưa.

Tránh hỏi trực tiếp sỗ sàng: Bao nhiêu tuổi, lương bao nhiêu một tháng, sao gần 40 tuổi mà vẫn chưa có chồng. Người Pháp cổ có dạy: “Vào chơi nhà có người thắt cổ, tránh nói đến cái dây thừng” chính là dạy phải cân nhắc kỹ trước khi nói, “phải uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”.
Ngày nay, bố mẹ đang tiếp khách, cậu con trai ở trong nhà đi ra chẳng chào hỏi ai, cầm ngay ấm nước rót vào chén đứng uống rất tự nhiên. Bố mẹ ngượng với khách quá nhắc khéo thì cậu lừ mắt, buông thõng một câu: “Vẽ”.

Còn có trường hợp, bà khách bỗ bã hỏi bà chủ nhà: - Nhà này có mấy cô con gái lớn tướng mà chưa thấy xuất chuồng à, khéo ế rồi cũng nên.

Không khí giữa khách và chủ trở nên bẽ bàng, xấu hổ.

Chao ôi, nếu cứ kể ra mãi sẽ không bao giờ hết những câu chuyện buồn, vui lẫn lộn. Chỉ biết rằng khi vật chất càng khang trang, đầy đủ, càng nhà cao cửa rộng thì con người càng phải học cách ăn nói cho lịch sự, cho lễ độ mới thật là đầy đủ, trọn vẹn.

Người xưa còn dạy: “Y phục xứng kỳ đức” ý muốn nói ngay cách ăn mặc cũng nên chỉn chu, thận trọng cho tương xứng với vị trí công việc, cho tương xứng với lễ nghi giao tiếp trong cuộc sống.

Kết luận:

Có người luyến tiếc cái ngày xưa thanh bình, tiết kiệm, giản dị mà chan chứa tình làng nghĩa xóm, chan chứa niềm vui tối lửa tắt đèn, chan chứa nghĩa vợ chồng từ lúc hàn vi đến mãi mãi thủy chung son sắt, nên đã thốt lên rằng: Bao giờ cho đến Ngày Xưa.

Trần Hữu Thăng