93 liệt sĩ hy sinh khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968 chỉ còn cách 20 ngày.

Sau bốn ngày tìm kiếm (từ 21 đến 24-9) tại thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành, lực lượng tìm kiếm đã khai quật được 93 thi thể cùng một số di vật của các liệt sĩ. Đó là những chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị C506A tỉnh Quảng Ngãi và các trung đội đặc công của một số huyện trong tỉnh. Nôn nao ngày giải phóng quê hương “Khoảng 700-1.000 quân địch thường trú tại căn cứ do Thiếu tá Em chỉ huy. Nếu có biến, tiểu đoàn bảo an ở thị xã sẽ đổ quân lên tiếp ứng. Muốn lọt vào bộ não của địch và bắt chúng phải câm họng, các cánh quân phải băng qua năm lớp rào và nhiều bãi mìn, mỗi lớp cách nhau 10 m. đó là chưa kể một hệ thống giao thông hào cài đầy mìn bao quanh. Nguy hiểm nhất là một pháo đài cao ngất ngưởng được xây dựng kiên cố…”. Các mũi đặc công sau nhiều đêm mò vào tận thắt lưng địch, sờ từng ụ súng và trở về báo cáo địa hình quận lỵ Nghĩa Hành cho ban tham mưu tác chiến như vậy. Vào buổi chiều 1-1-1968, tại mật cứ mang tên Hố Bà Năm nằm tại một vùng núi thuộc thôn An Phước, xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, 800 quân thuộc năm đơn vị (Tiểu đoàn Bộ binh 83, 81, Đại đội Đặc công 56A của tỉnh, B4 đặc công huyện Nghĩa Hành và Tư Nghĩa) đã có mặt để nhận một nhiệm vụ đặc biệt - nhổ cho bằng được quận lỵ Nghĩa Hành. Nằm cách trung tâm thị xã Quảng Ngãi khoảng 10 km, đây chính là cửa ngõ, nếu mở toang thì có thể thọc xuống thị xã như một lưỡi dao điểm huyệt. Thân nhân hai liệt sĩ Huỳnh Mau và Phạm Hoàng bên tấm di ảnh. “Tỉnh ủy quyết định phải đánh chiếm Nghĩa Hành để làm bàn đạp tiến xuống thị xã Quảng Ngãi trong đợt tổng tiến công” - ông Huỳnh Trinh, chỉ huy trưởng trận đánh, quán triệt. Thời gian nổ súng là 5 giờ sáng 2-1-1968. Khi ánh mặt trời vừa khuất đỉnh núi Đình Cương, những đoàn quân bí mật đã lặng lẽ băng qua những cánh rừng già, chia thành nhiều mũi như sợi dây thòng lọng siết dần trung tâm Nghĩa Hành. Tiếng pháo bầy của giặc từ các nơi thỉnh thoảng lại dội xuống phạt ngang thân cây như những nhát dao. Ông Trần Đức Khôi, Tiểu đội trưởng đặc công tham gia đánh vào hướng Đông, nhớ lại: Hồi đó chỉ cần nghe “giải phóng quê hương” là ai cũng nôn nao. Nhiều anh em thề chuyến này đi không đánh thắng địch thì không trở về nữa”. Hy sinh Tất cả người lính thời đó đều trẻ măng. Trước giờ ra trận, anh em vẫn đọng trên môi nụ cười. “Chuyến này có mũi dao Huỳnh Mau đánh mũi chính, thọc vô ruột bọn địch” - nhiều cụ cựu chiến binh nhớ lại anh em đã kháo nhau. Và đó cũng là biệt danh mà báo ở vùng giải phóng đã đặt cho người dũng sĩ gan góc này. Dũng sĩ Huỳnh Mau sinh ra tại vùng đất thép xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ. Dáng người cao to. Cha mẹ chết sớm, anh em đều tham gia bộ đội. “Huỳnh Mau nói ít nhưng đánh trận thì không địch nào chịu nổi” - những đồng đội của dũng sĩ Huỳnh Mau kể lại. Cùng có mặt ở phía sau đoàn quân là hàng ngàn thanh niên xung phong, dân công của các xã Hành Tín, Hành Thuận, Hành Đức cũng tập hợp và lặng lẽ theo kế hoạch đã được phân công. đó là nghe tín hiệu đánh thắng quận lỵ Nghĩa Hành thì nhanh chóng vào tham gia tiếp quản, quyết giữ mục tiêu quan trọng này đến ngày tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968. Dũng sĩ Huỳnh Mau hy sinh khi đang độ thanh xuân. Quận lỵ Nghĩa Hành cả ba mặt đều là vùng trắng, không có nhà dân. Chính vì vậy, nếu phát hiện ra quân giải phóng, xung quanh quận lỵ sẽ lập tức bị đạn cày nát từng mét. Pháo đài Nghĩa Hành - mục tiêu chính mà các đơn vị phải dập tắt hỏa lực ngay từ phút đầu được đưa vào điểm ngắm. Thời gian nhích chậm chạp. Trước giờ nổ súng, ở mũi phía nam phát ra một tiếng nổ lớn. Ngay lập tức quận lỵ Nghĩa Hành trở thành điểm chụm để pháo ở sân bay Quảng Ngãi, Mộ Đức, Đá Trắng, sân bay Gò Hội, thị xã Quảng Ngãi rót về. Cả chiến trường mù mịt khói đạn. Đạn băm nát, cày xới tung mặt đất. Pháo vừa ngớt, tiếng máy bay địch ù ù như những con quái vật đen đặc trên bầu trời. Đạn súng máy xả xuống mặt đất như trấu vãi. Ông Trần Đức Khôi bùi ngùi: “Anh em mình hy sinh nhiều lắm. Sau này về lấy xác nhưng không được. Lúc đó mới gần 5 giờ nhưng trời đã sáng tỏ như ban ngày. Các cánh quân ta đều ở thế bất lợi nên được lệnh rút vào cứ”. Và 20 ngày sau, đoàn quân lách qua Nghĩa Hành, tham gia nổ súng đánh thẳng xuống thị xã, cùng cả nước tổng tiến công và nổi dậy. Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Đình Nghiệp: “Xót thương anh em mình lắm! Mấy chục năm qua anh em nằm dưới hào nước lạnh giá”. Đón các anh về Trong hội trường của UBND huyện Nghĩa Hành được sử dụng làm nhà tang lễ, 93 chiếc hòm phủ lá cờ đỏ sao vàng, khói hương nghi ngút. Tiếng nhạc chiêu hồn tử sĩ “chiến đấu cho giống nòi, cho nước nhà…” cất lên như khúc tráng ca bất tử. Những đồng đội chiến đấu năm xưa ai còn sống thì đều về đưa tiễn các anh. Khuôn mặt mọi người thẫn thờ nhìn lên một rừng cờ phủ trên quan tài đựng nắm xương đưa lên từ mảnh đất còn khét mùi bom đạn. Xương thịt của các anh trộn vào nhau, hòa lẫn trong đất. Tổng số 93 hài cốt, chỉ có 10 bộ hài cốt xác định được danh tính, đưa về chôn cất tại các địa phương. Những bộ hài cốt còn lại được an táng ở nghĩa trang liệt sĩ với tấm bia “Liệt sĩ chưa biết tên”. Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Đình Nghiệp, anh em thường gọi là anh hai, anh cả (chính trị viên đơn vị đặc công 506A), trên mặt trĩu nặng nỗi thương tiếc đồng đội, kể: “Trận đánh này diễn ra đúng vào lúc chú vào Nam để tham dự Đại hội anh hùng toàn miền Nam. Món quà cô Ba Định thưởng cho lúc đó là một khẩu súng B40. Chú mừng rỡ mang về tặng cho đơn vị nhưng đến nơi thì anh em mình đã hy sinh!”. “Đồng đội, các anh giờ nằm ở đâu?” - 43 năm qua, ông Nghiệp luôn canh cánh trong lòng điều này và cất công đi tìm. “Xót thương anh em mình lắm! Mấy chục năm qua anh em nằm dưới hào nước lạnh giá” - giọng người lính già ngắt quãng. Lần bước qua dãy quan tài, ông Phạm Lụa ở xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa trên tay cầm tấm ảnh đen trắng, gạt nước mắt, lòng cố nén nỗi đau: “Mẹ mong nhưng anh Ba giờ mới trở về”. Hồi còn sống, ngày nào mẹ Võ Thị Hợi cũng nhắc tên con trai - liệt sĩ Phạm Hoàng. Ông Lụa nhớ lại: “Trước khi chết, mẹ đã gọi chị em tôi đến dặn dò, con làm sao tìm anh con trở về…”. Tấm di ảnh trắng đen, úa màu vì thời gian, hình bóng người chiến sĩ giải phóng quân với khuôn mặt trẻ măng, ánh mắt trong sáng. Anh vĩnh viễn nằm lại với cái tuổi 20. Dũng sĩ Huỳnh Mau - huyền thoại thời đánh Mỹ ở Quảng Ngãi. Tấm ảnh do người cháu ruột - ông Đỗ Đình Mưu mang đến đặt lên quan tài. “Cha mẹ cậu tôi đều chết sớm. Hồi cậu đi đánh trận là không còn ai. Vì vậy, tính ổng lầm lì, ít nói nhưng sống tình cảm lắm!” - ông Mưu trầm ngâm. Đó chỉ là hai trong tổng số 93 chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống. Trong tiếng nhạc chiêu hồn tử sĩ, trong tiếng nấc của các mẹ, các chị và những giọt nước mắt lăn dài trên những khuôn mặt hằn sâu vết chân chim, ông Nguyễn Hoàng Sơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi bùi ngùi đọc điếu văn: “Suốt hai cuộc kháng chiến, Quảng Ngãi đã có 37.000 liệt sĩ đã anh dũng ngã xuống. Các anh ra đi khi tuổi còn xanh. Các anh trở về trên người khoác lá cờ tổ quốc. Màu cờ, biểu tượng mà các anh đã chiến đấu, hy sinh…”. LÊ VĂN CHƯƠNG Kỳ 2: 16.000 ngày đêm mong con Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhất ở thôn 6, xã Nghĩa Lâm, huyện Tư Nghĩa có chín đứa con thì bảy người đã bị bom đạn cướp mất tuổi thanh xuân, hai con trai là liệt sĩ Huỳnh Trinh và Huỳnh Huệ đều hy sinh trong trận đánh vào huyện lỵ Nghĩa Hành và trong đợt tổng tấn công nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968.