Chiếc mũ ấy thoạt trông có vẻ hơi dữ dằn bởi những phụ kiện đặc chủng với kính màu tối sẫm, xung quanh có nhiều dây đai dù, móc khóa phức tạp cùng hệ thống đường ống cung cấp dưỡng khí không kém phần kì dị, nhưng đối với Nguyễn Đức Soát thì đó là vật vô cùng gần gũi, thân thương.

Nó đã gắn bó với ông suốt từ những ngày học lái máy bay phản lực từ nước bạn Liên Xô cho đến những chuyến bay huấn luyện tại Việt Nam. Mỗi lần trở về từ bầu trời, bao giờ chiếc mũ cũng được Nguyễn Đức Soát kiểm tra lại từng chi tiết nhỏ, lau chùi và cất giữ cẩn thận cùng bộ đồ bay. Và chiếc mũ bay ấy đã giúp Nguyễn Đức Soát lập nên những chiến công vang dội. Năm 1972, Nguyễn Đức Soát vừa tròn 26 tuổi, thuộc quân số của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927. Chỉ trong vòng 5 tháng, Nguyễn Đức Soát với chiếc máy bay phản lực MIG-21 đã 5 lần bắn hạ máy bay Mỹ: ngày 23/5 bắn rơi A-7B Corsair II của Hải quân Mỹ bằng pháo 30mm; 24/6, hạ F-4E bằng tên lửa không đối không R-3S Atoll; 27/6, cũng bằng tên lửa R-3S, cùng đồng đội Ngô Duy Thu bắn rơi một cặp F-4; 26/8, hạ chiếc Con Ma duy nhất của Lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ. Chiến công cuối cùng và cũng đáng ghi nhớ nhất của Nguyễn Đức Soát là diệt F-4E trên bầu trời Hà Nội ngày 12/10/1972. Với những chiến công này, Nguyễn Đức Soát vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hòa bình, Nguyễn Đức Soát chuyển nhiều vị trí công tác, giữ nhiều trọng trách trong quân đội. Ông được phong quân hàm trung tướng, giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Mặc dù không còn bay với những chiếc “én bạc” nữa, nhưng chưa lúc nào ông rời xa mũ phi công. Ông nâng niu, gìn giữ chiếc mũ cẩn thận như giữ một báu vật. Ngày 1/11/2009, ông quyết định mang tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam chiếc mũ bay của mình. Ông hy vọng, đây sẽ là nơi gìn giữ tốt nhất những kỷ vật chiến tranh không chỉ cho riêng mình mà còn để thế hệ sau hiểu nhiều hơn về các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc. Phạm Cường