QĐND - Lắm khi tôi nghĩ như ông bà ngoại tôi có hàng tá người con, trai gái đủ cả. Khi ấy ở một miền quê thanh bình. Năm 1954 ông tập kết đi Bắc mãi đến 1975 ông mới trở về. Bà ngoại ở lại vừa lo nuôi bầy con lít nhít, vừa chạy bom đạn đổ xuống bời bời, vừa cho chúng đến trường làng đi học, vừa lo bà mẹ chồng ngày mỗi yếu dần. Lắm thứ lo, trăm thứ nghĩ, ngàn cái đụng chân đụng tay để tìm hạt lúa mà tồn tại theo thời gian. Vậy mà ruộng nương, nhà ngói ba gian, vườn tược xanh lá, hai tay bà gây dựng tất tần tật. Ngày ông xong việc nước, vượt ngàn cây số trở về với chiếc rương con, hòm sách và không còn đủ sức để cùng bà một nắng hai sương. Bây giờ bầy con đã đủ lông cánh mà xuống phố xây nhà, dựng cửa, bỏ lại hai người, căn nhà, vườn tược, chuồng trại mặc câu “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông…”.

Tôi về thăm ông bà. Hai người già tới lui, ra vô cũng chỉ hai người. Ra vườn thì thấy bà lui cui cắt tàu lá chuối, đến trước ngõ thấy ông cui cúi gạt rác tấp vào chân cầu gỗ bắt qua mương nước. Bóng nắng vờn qua kẽ lá nhảy múa cùng gió nhưng không có tiếng cười của bầy cháu nhỏ. Bóng chiều đổ qua cổng rào tre nhưng không có đứa con nào về. Buồn thiu thỉu. Cùng lắm buổi sáng mồng một Tết, cùng lắm buổi trưa ngày giỗ chính, vài đứa về đáo qua, đáo lại rồi đi. Có đứa nào ra mương nước mà nhảy xuống tắm như thuở nào, có đứa nào ra vườn mà chặt buồng chuối chín kẻo chim ăn hết? Chao, niềm vui cũng chẳng tày gang, nhịp điệu phố phường kéo chúng đi hết để chạng vạng lúc gà lên chuồng, mâm cơm dọn ra giữa sân nhờ ánh sáng cuối ngày mà ăn cho xong bữa. Rồi tối cũng chẳng biết làm chi, bên ánh đèn leo lét bởi để điện sẽ tốn; ông bà mỗi người mỗi giường mà trằn trọc, mà nghe tiếng mọt nhấm trên đà gỗ, mà nghe tiếng xào xạc của lá ngoài vườn, nghe tiếng sương rơi trên tàu cau ngoài hàng hiên và đợi tiếng gà gáy mà trở dậy xuống bếp cho ngọn lửa bập bùng chào một ngày trên quê nhà. Rồi bà ngã bệnh, những tháng năm thiếu thốn bóp hầu, bóp miệng để dựng mái nhà, nuôi con ăn học, dựng vợ gả chồng cho thằng Hai, con Ba… Bao cái lo đó làm bà gầy rộc nhưng tế bào ung thư thì phát triển mạnh thành đa nhân sinh ra ác tính. Bà tạm biệt cánh đồng làng, tạm biệt ngôi nhà, khu vườn xanh sắc lá để vào Sài Gòn ở viện K và nghe bác sĩ lắc đầu, phẩy tay. Trở ra thì vĩnh biệt luôn cánh đồng vì phải ở cùng con trai nơi phố thị, vĩnh biệt căn nhà mái ngói mà ở nhà mái bằng, vĩnh biệt luôn chiếc giường tre kỷ niệm mà nằm trên giường hộp trải nệm, và vĩnh biệt luôn một vụ gặt vừa chớm vì bà ra đi vĩnh viễn ở phố, chôn ở nghĩa địa phố. Rồi các cậu, dì tôi cũng đưa ông về phố bởi có nhiều thời gian và tiện nghi chăm sóc. Ông cũng phải rời quê mà về nơi náo nhiệt trong ngỡ ngàng và mất đi nhanh chóng. Khi máu mủ ruột rà đã không còn nơi quê nhà thì nơi ấy sẽ dần vào lãng quên. Ngôi nhà không người ra vô coi ngó sẽ dột nát, mảnh vườn không người chăm sóc sẽ xơ xác thì bà con thân thích sẽ càng cách xa. Ở phố “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, thì thôi, gần cho tiện, tiện đủ bề. Và tôi khi trở lại quê ngoại, nắng chan hòa, rải khắp trên cánh đồng làng nhưng cô đơn lại choáng ngợp. Người quen đã già đi, bạn bè cùng thời chăn trâu, cắt cỏ cũng chẳng còn mấy, đứa ở lại cũng tất bật công việc đồng áng cho dù hôm nay, nông thôn đã thực sự biến đổi nhiều, rất nhiều. Đi thăm đồng đã dùng xe máy vì đường ngang, lối lại thênh thang. Tối tối điện thắp mọi nhà, nhạc nhùng rộn rã, quán xá mở rộng cửa, người dân biết thời sự nhanh hơn những kẻ ở phố làng nhàng ăn nhậu. Nhưng có cái gì đó vẫn thiêu thiếu…Hay là thiếu lời đồng vọng năm xưa? Ông bà nội tôi cũng gốc nông dân rặt. Cũng ở trên cánh đồng làng như phía ngoại. Ba má tôi yêu nhau rồi lấy nhau để sinh ra bầy con cũng trên đồng làng. Mỗi bên nội, ngoại đều có vườn. Vườn nội rộng trồng toàn cây ăn trái hướng ra ruộng lúa. Thời ấy, mỗi năm hai vụ lúa đổ đầy bồ, đầy kho. Ông nội là thầy thuốc bắc thời ông Tham Thiên Đường ngoài Hải Phòng dạy. Nội thích sưu tầm đủ thứ chim trời, cá nước nên ông từng có những con vật quý hiếm như cặp cá trê trắng, những con cuốc trong bụi tre ngà, bầy chim sống trong vườn, con khỉ theo ông cả ngày như đệ tử và chính điều ấy làm tuổi thơ tôi nhiều ấn tượng. Và hoàn cảnh cũng giống như nhà ngoại, cứ ngóng trông con cháu trở về. Rồi cuối cùng ông bà cũng dắt díu nhau vào phố, bỏ lại mảnh vườn, vườn cây, nhà ngang dãy dọc trong mưa bụi phủ mờ… Anh em tôi hay cả bạn bè từ quê ra phố, nếu gặp nhau liền kéo vào quán bia uống vài ly mà kể chuyện xưa tích cũ: Đất làng, người làng, cánh đồng làng, đình làng, mương nước qua làng… Tôi sinh ra ở đồng làng là gốc nông dân, đã một thời viết về làng quê ngày cũ, hoài niệm một thời thơ ấu, ngày ngày sử dụng những gì mà người dân quê làm ra. Phố nơi tôi ở cũng có một con sông dài, cũng có một khu vườn nhỏ đầu sân để trồng những gì người nông dân thường trồng. Nên nghĩ, nếu ai viết về nông dân thì viết cho phải, cho thật. Người nông dân đâu cần phải viết cho hay đến bóng bẩy mà cần tâm trạng của họ, cần có sự công bằng với bao khó khăn khi chỉ duy nhất là hạt lúa vào mỗi vụ để lo toan cuộc sống, để đối diện bao mưa lũ và nhiều, nhiều lắm. Khi chúng ta đã ở phố, đã nhìn lại ông, bà, cha, mẹ dần mất đi như nhìn những mảnh vườn xưa giống như những con người cũ. Gốc nông dân đã ở phố thì hãy một lần về với xóm làng, dòng sông và hãy ở đấy một ngày, hai ngày sẽ thấy, sẽ nghe những lời đồng vọng… Tản văn của Huỳnh Thạch Thảo