Trên báo điện tử infonet ngày 01/09/2017 đã có bài trao đổi về cuốn “Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân (GS.NL) –phê bình và khảo cứu” của Hoàng Tuấn Công (HTC), chỉ ra một số chỗ mà GS. Nguyễn Lân đúng, chứ không phải là sai như cuốn sách này nêu

Là người đã đọc cuốn sách trên, tôi cũng xin góp thêm một vài ý kiến với cuốn sách của ông HTC.

1. Về nghĩa 2 chữ Oan khuất (trang 203 sách HTC)

GS. NL giải nghĩa như sau: (khuất: cúi xuống). Mắc oan mà không bày tỏ được. Trong chế độ cũ, biết bao nhiêu người bị oan khuất vì sự xảo trá của bọn quan lại.

Ông HTC không phê phán gì định nghĩa ấy đối với 2 chữ oan khuất của GS.NL.

HTC chỉ đặt ra câu hỏi: “Không rõ soạn giả tìm đâu ra chữ “khuất” với nghĩa là “cúi xuống”.

Sau đó HTC viện dẫn các sách giải thích chữ “khuất” là thế nào. Nhưng từ vựng “oan khuất” lại không được HTC chỉ ra ý nghĩa của nó theo như ông hiểu.

Khong nen co tinh bat be ! - Anh 1

Câu hỏi của HTC về việc chữ “khuất” là “cúi xuống”, không biết GS.NL tìm ở đâu?

Tôi xin thưa đã đọc được trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh mục từ “khuất” với nghĩa thứ 2 là “cúi xuống”. Trong cuốn “Tân hoa tự điển” xuất bản năm 1971 Thương vụ ấn quán Bắc Kinh, “khuất” có nghĩa thứ 2 là “đê đầu” tức là “cúi đầu” (Một câu thơ nổi tiếng: nhất sinh đê thủ bái mai hoa - đê thủ và đê đầu đều có nghĩa là cúi đầu tức là cúi xuống),…

2. Về nghĩa 2 chữ “lữ thứ” (trang 356 sách HTC) - GS. Nguyễn Lân giảng:

“Lữ thứ dt (H. thứ: nhà trọ) nơi nghỉ trọ. Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ, lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ( Bà huyện Thanh Quan)”.

ý kiến của HTC: phủ nhận sạch trơn: “không đúng” với các lý do sau:

- “Thứ” trong “lữ thứ” nghĩa là “trọ” [động từ] chứ không phải “nhà trọ” [danh từ]

- 2 chữ “lữ thứ” sau một hồi dẫn chứng các tự điển, HTC cho rằng: “Lữ thứ” còn gọi là: “nơi đất khách quê người, nơi tha hương, nơi xa lạ, chỗ xa lạ…”

GS. Nguyễn Lân và tự điển của GS. Văn Tân giải nghĩa là “nơi nghỉ trọ”,  “chỗ nhà trọ” theo HTC đều là giải nghĩa sai cả.

Tôi xin bàn góp như sau:

- Từ điển “Hán Việt văn ngôn dẫn chứng” của Nguyễn Tôn Nhan nghĩa thứ 6 trong mục từ của chữ “thứ” là: “nơi”, “chỗ”.

- Từ điển Hán Việt hiện đại do GS. Nguyễn Kim Thản chủ biên, nghĩa thứ 7 của “thứ” là “nơi dừng chân”, “lữ thứ”: “nơi khách (du lịch) dừng chân”.

- Từ điển “Việt Anh” của Đặng Chấn Liêu và Lê Khả Kế thì “lữ thứ” là: “Inn accommodation, Hotel accommodation” đều có nghĩa là “nhà trọ” cả.

Tóm lại HTC giải thích chữ “thứ” là “động từ” là sai, như trên đã dẫn chứng các GS ngôn ngữ hàng đầu của Việt Nam đều bảo là “danh từ”, còn “lữ thứ” thì giải nghĩa của GS.NL và của GS. Văn Tân đều đúng. Đó là: “nơi nghỉ trọ”, “chỗ nhà trọ”. Không phải là “nơi xa lạ”, “chỗ xa lạ” như HTC khẳng định, vậy HTC đã giải thích sai cả yếu tố Hán Việt và nghĩa từ vựng.

3. Về nghĩa 2 chữ lương y (trang 357 sách HTC) GS.NL giảng:

“Lương y dt (H. lương: tốt lành, y: chữa bệnh, thầy thuốc). Thầy thuốc giỏi. Người ta có câu “lương y kiêm từ mẫu” nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền (HCM)”.

ý kiến của HTC. HTC cho rằng GS.NL đã giải thích chữ “lương” sai. “Lương” cũng có nghĩa là “tốt” ( như “lương ngọc” = “ngọc tốt”). Tuy nhiên, “lương” trong “lương y” lại có nghĩa là “tài giỏi” chứ không phải là “tốt lành”.

Vậy hãy tìm hiểu ý nghĩa chữ “lương” xem sao?

Vì thấy HTC hay viện dẫn từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh và Thiều Chửu, nên trước tiên hãy tra chữ “lương” trong hai cuốn từ điển này.

Theo Trần Văn Chánh “lương” có 4 nghĩa: 1. Tốt, lương thiện, hiền lương, tài; 2. người lương thiện; 3. Rất, lắm; 4. (họ) Lương.

Theo Thiều Chửu “lương” cũng có 4 nghĩa: 1. lành, tính chất thuần tốt, bền, giữ không đổi; 2. tốt, vật gì hoàn toàn tốt đẹp gọi là lương; 3. sâu, rất; 4. dùng làm trợ từ nghĩa là tin.

Lấy thêm cuốn từ điển phổ thông “Tân Hoa từ điển” - NXB Thương vụ ấn quán Bắc Kinh 1971, về từ “lương”, họ chỉ nêu có hai nghĩa, chắc đó là hai nghĩa phổ biến nhất của “lương” 1. Hảo (tốt); 2. Hẫn, ngận (rất).

Vậy thì HTC giải nghĩa “lương” là “tài giỏi” căn cứ vào sách của ai ? Và cũng căn cứ vào đâu mà “phán” rằng, nghĩa gốc Hán Việt của chứ “lương” trong “lương y” không phải là “tốt lành”? Trong khi cả 3 từ điển nói trên cũng như nhiều từ điển khác đều lấy nghĩa số 1 của “lương” là “tốt” (Hán tự là hảo).

Theo tôi “lương” từ Hán Việt là “tốt”, rồi tùy trường hợp của chữ  được ghép cặp đôi với nó để hình thành những từ vựng khác nhau như “lương dược”, “lương điền”, “lương ngọc”, “lương y”,… mà được chuyển ngữ sang tiếng Việt cho hợp từng ngữ cảnh là: “thuốc tốt”, “ruộng tốt”, “ngọc tốt”, “thầy thuốc giỏi”,… (Thậm chí như ví dụ minh họa trong phần giải thích nói trên của GS. Nguyễn Lân “lương y” chỉ được dịch là “thầy thuốc”.

Riêng có một “sự lạ”: tuy phải thừa nhận hai chữ “lương y” là thầy thuốc giỏi do GS. NL giảng nghĩa là chính xác, nhưng HTC vẫn không công nhận gốc nghĩa “tốt lành” của chữ “lương” trong “lương y”, HTC khăng khăng nghĩa “lương” là “tài giỏi” một cách rất vô căn cứ, rồi viết rằng GS. NL giải thích sai. Phủ nhận luôn các sách từ điển Hán Việt đã dẫn.

Chính bởi thái độ đó khiến người ta cho rằng ông HTC là “cố tình vặn vẹo”, từ vựng “lương y”  đã được GS. NL giải thích đúng. (Còn có những trường hợp từ vựng khác cũng bị HTC vặn vẹo như thế !)

Ngoài ra việc viện dẫn một cách thái quá tiếng Hán, tiếng Mường, tiếng Tày, lại cả tiếng Việt cổ từ thời các chúa Trịnh, Nguyễn và diễn giải một cách dài dòng,… Chẳng những vô bổ mà còn bị người ta cho rằng HTC thích “khoe chữ” một cách lộ liễu.

Lã Trọng Long (Nguyên Chủ tịch LHH KHKT Hải Phòng)