Năm 1991, nhà văn Nguyễn Hiếu được mời đi công tác trên tàu Điện Biên 01 của Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco). Sau hơn nửa năm lênh đênh cùng sóng nước đại dương, ông đã hòa mình vào cuộc sống của người thủy thủ viễn dương. Đến nay, đã hơn 23 năm kể từ chuyến đi ấy, ông vẫn không bao giờ quên được những kỉ niệm sâu đậm đó.

Tác giả (bên trái) và Chính ủy Lê Hùng trên tàu Điện Biên 01

Chiếc lá tre giữa biển khơi

Thủy thủ viễn dương thường bảo “đi tàu sợ nhất là gặp bão, thứ nhì gặp cướp”. Chuyến đi của tôi vòng tua hai bận theo lịch trình từ các cảng Việt Nam - Thái Lan- Campuchia - Nhật Bản - Hàn Quốc. Suốt hành trình, cái thứ đáng sợ thứ hai là cướp biển chúng tôi gần như không gặp phải. Còn nỗi sợ thứ nhất thì ngay lượt hành trình đầu tiên khi tàu Điện Biên 01 chở hàng từ Công Pông son (Campuchia) sang Nhật Bản đã gặp ngay… bão. Nhờ có sự thông báo kịp thời, được cập nhật thường xuyên trên cyclop (bảng báo của Tổ chức dự báo thời tiết thế giới dành cho tàu biển) nên lần đó tàu chúng tôi an toàn vì kịp thời vòng vào neo ở biển Hồng Kông (Trung Quốc) tránh cơn bão khá lớn trên biển.

Dù có trọng tải ngót vạn tấn, nhưng giữa biển khơi mênh mông, chiếc tàu không khác gì mấy chiếc lá tre giữa những đợt sóng lừng lững. Khi tàu rời thành phố Mô Ri (Nhật Bản), trời bắt đầu tối. Ánh đèn thành phố và đèn con tàu soi rõ mặt biển lóng lánh hệt màu thủy tinh vỡ vụn. Tiếng còi chào tạm biệt vang lên giục giã. Khu vực ca bin thuyền trưởng, tiếng nhạc rộn rã. Những chàng thủy thủ chưa phải vào ca trực, thích khiêu vũ lại đổ dồn về phòng thuyền trưởng.

Tôi là dân đất liền, xuống tàu hơn một tháng vẫn không quên được sự đơn điệu ngày nào cũng giống ngày nào của dân đi biển. Vì thế, để tránh sự đơn điệu nhàm chán, cánh thủy thủ viễn dương thường vin vào những cái cớ, có khi rất trời ơi để tổ chức những cuộc vui tập thể. Khi thì mừng thời tiết đẹp. Nhưng có khi thời tiết xấu, mưa ròng vẫn tụ tập nhảy múa. Có khi chỉ vì buổi sáng hôm đó tự nhiên thấy nốt mụn cơm trên tay nhỏ hơn hôm qua… nổi hứng cũng hát hò.

Phòng câu lạc bộ của tàu khá rộng. Trong đó có ti vi, video xem phim, thư viện (tôi rất vui khi thư viện có cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi “Vết xoáy trước ngực làng”). Nhưng xem mãi cũng chán, lại thêm thuyền trưởng Lê Ngọc Minh tuy khiêu vũ không sành điệu lắm nhưng tính anh vui vẻ, chan hòa nên các buổi khiêu vũ ăn mừng vì những lý do của thủy thủ đặt ra đều được anh chấp nhận và tham gia nhiệt tình…

Sinh tử trên biển Nội Hải

Tôi nhớ, hôm đó, sau khi cùng một số anh em thủy thủ ngắm thành phố Mô Ri xa dần trong đêm. Ngắm chiếc cầu treo có thể nói là kỳ quan của Mô Ri vắt qua hai ngọn núi đang sáng bừng lên hình hai chiếc nón khổng lổ được vẽ bằng ánh sáng. Con tàu lầm lũi trôi. Ngọn đèn sáng nhất của thành phố đã chìm hẳn sau khoảng không gian mênh mông chỉ còn sót lại quầng sáng bồng bềnh như chiếc lồng bàn vĩ đại. Vài ngôi sao lẻ loi chìm dần.

Chúng tôi rời lan can tàu vào phòng thuyền trưởng. Vừa vào đến cửa phòng, tôi đã gặp thuyền trưởng Minh và máy trưởng Luận đi ra. Nhìn thấy tôi, thuyền trưởng Minh vồn vã nói ngay: “Anh vào với anh em cho vui”. Tôi hỏi lại, còn anh?. “Tôi có chút việc” - Minh nói.

Nhưng ngay sau đó tôi nghe thấy tiếng nói khe khẽ của anh Bách thông báo thông tin khẩn: “Bản đồ cyclop dự báo đêm nay có cơn giông địa phương đột ngột”.

Tôi bước vào phòng thuyền trưởng. Tiếng nhạc đang ồn ã, bất chợt dứt hẳn. Vài ba cặp thủy thủ đang ôm nhau nhảy chợt sững lại. “Có giông, có bão thì phải” - nhiều người đoán. “Vậy thì về xem phân công. Thuyền trưởng đã lên buồng lái rồi”. Nghe chưa hết câu anh em đã giải tán.

Loáng sau, phòng thuyền trưởng vắng teo. Bếp trưởng thu dọn mấy món thức ăn, rượu trên bàn rồi khép cửa. Tôi vừa vào phòng Chính ủy Lê Hùng (chuyến đi này tôi ở cùng phòng với anh), khép xong cửa thì gió ngoài tulông (cửa sổ thông gió hình tròn) đã rít lên. Chính ủy nhìn lên tấm bản đồ, anh gật gù như nói một mình: “Đây là tuyến biển gần nhất từ Nhật sang Pusan… Ái chà bắt đầu gió rồi đấy”.

"Năm 1990, nhà văn, nhà báo Nguyễn Hiếu đoạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác văn học do Bộ GTVT phối hợp cùng Hội Nhà văn VN tổ chức. Trong lễ trao giải, Giáo sư Bùi Danh Lưu -Bộ trưởng Bộ GTVT hồi đó nói: “Cuốn “Bụi đường”mô tả rất đúng hiện thực ngành Vận tải đường bộ. Tôi muốn mời chú đi thực tế một chuyến dài ngày trên tàu vận tải viễn dương, hy vọng, chú sẽ có cuốn tiểu thuyết hay về lĩnh vực vận tải khắc nghiệt này”.

Tôi đứng trong khoang tàu nhưng đã cảm nhận rất rõ tiếng gió gào ngày càng mạnh. Con tàu bắt đầu nghiêng ngả. Đầu tiên là chai rượu Santori cùng hai chiếc ly rơi xuống sàn phòng. Sau đó là tượng thần Vệ nữ dứt khỏi sợi dây thép nhỏ từ trên xích đông lăn xuống. Tôi trèo lên giường cố nhìn ra phía ngoài. Qua ánh đèn pha rọi trên đầu tàu, tôi thấy những đợt sóng dựng thành những tảng nước khổng lồ liên tục đập vào sườn tàu. Ánh đèn pha vẫn gan góc quét đi quét lại trên mặt biển càng làm rõ thêm biển và trời đen kịt vặn vẹo trong vũ điệu man rợ.

Con tàu của chúng tôi thoắt trở nên bé nhỏ, tội nghiệp bị dìm lên, rồi lại dúi xuống trong bể nước đang quằn quại bởi bàn tay thịnh nộ của thiên nhiên.

Tôi đang cố rời khỏi giường, định đi đến gần phía Lê Hùng thì chiếc tủ lạnh hai trăm lít đổ xô về phía tôi. Cố nép sát vào thành giường, may mắn tôi tránh được sự xô gấp của “khối sắt khủng”. Chưa kịp định thần, cánh cửa phòng tôi bật mở ra. Tuấn - cậu thủy thủ trẻ, mặt như càng xanh xám hơn bởi màu của chiếc xô nhựa đeo lủng lẳng trên cổ. Tuấn vừa lấy tay chẹn cổ nhưng không kịp, anh vẫn bật lên mấy tiếng nôn khan. Tay đập đập vào thành phòng đang nghiêng ngả, giọng lào thào, đứt quãng: “Thuyền trưởng mời chú lên buồng lái”.

Tôi lẳng lặng đi theo Tuấn. Hai chú cháu gần như phải bò lần theo những bậc thang. Đi nghiêng ngả giữa hành lang. Gần đến nơi Tuấn hất tay bảo tôi đi tiếp.Tôi vừa định hỏi, Tuấn lắp bắp: “Cháu đang trực ca”.

Lên đến nơi, tôi thấy thuyền trưởng đang cầm bộ đàm gào to: “Dứt khoát không để chết máy”.

Trên ca bin buồng lái. Trong ánh đèn pha tàu lia đi, liên tiếp những cột nước chồm lên, đập liên hồi như muốn phá vỡ tấm kính dày tôi nhìn thấy. Con tàu giật liên hồi, hết ngả bên này lại sang bên kia như đứa trẻ sốt quá cao lên cơn sài giật. Đuôi tàu ngóc lên, tiếng chân vịt rối rít khua trong không trung bật lên những tiếng lộc cộc khô khốc giữa tiếng gió gào, sóng rú. Biển trời đang như bị co giật, bất đồ như chết lặng. Tạm dừng. Nhưng cũng chỉ trong giây lát, rồi cả sóng và gió đổi chiều. Như chán trò bắt con tàu vặn vẹo, gió và sóng hùa nhau cùng lắc tàu nghiêng ngả. Trong ánh đèn chiếc giá cần cẩu như nằm vật ra, cánh tay đòn chạm với mỏm sóng. Thuyền trưởng Minh loạng choạng nói: “Lắc, nghiêng ghê quá. Bao nhiêu độ rồi?” “Báo cáo…15 độ 2” - một giọng cố cất lên để nén cơn nôn khan. “Theo lý thuyết, nếu nghiêng 17 độ thì… con tàu… Thuyền trưởng lẩm bẩm. Bằng mọi giá không được để chết máy… Để tôi đánh điện liên hệ với đất liền…”.

Cho đến bây giờ hơn 23 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in dòng điện báo từ tàu Điện Biên 01 đánh về đất liền trong cơn bão khủng khiếp trên biển Nội Hải từ Mô Ri sang Pusan năm đó. Và lần nào mắt tôi cũng rưng rưng vì sự xúc động bởi khoảnh khắc sinh tử, giữa sự sống và cái chết chưa đầy gang trên biển Nội Hải năm nào: “Nếu 15 phút nữa không thấy chúng tôi liên hệ về thì qua các đồng chí gửi lời chào vĩnh biệt Tổ quốc và những người thân”.

Rất may, trong cơn bão khủng khiếp ấy, tàu Điện Biên 01 không chết máy để chúng tôi bình yên cập cảng Pusan và tôi còn sống để kể kỷ niệm này tới các bạn.

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Hiếu