QĐND - Thi hào Nguyễn Du từng là quan tri huyện triều Nguyễn, mặc dù đã cáo quan từ chức nhưng lại được vua Gia Long vời ra giữ chức Đông các điện học sĩ trong triều đình. Năm 1809, ông được điều ra làm cai bạ Quảng Bình, một chức quan đầu tỉnh nhỏ. Bốn năm làm cai bạ Quảng Bình (1809-1813), lòng Nguyễn Du “ngổn ngang trăm mối”. ông đã bộc lộ nỗi niềm ấy trong tập Nam Trung tạp ngâm, sáng tác trong thời kỳ này.

Tượng Nguyễn Du ở Nghi Xuân -Hà Tĩnh. Ảnh: Phú Xuân

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chúng ta biết ông chẳng mấy thích thú với việc làm quan, mà chỉ vì mưu sinh. Nhà ông nghèo, “mười miệng kêu đói ở Bắc Hoành Sơn”. Thời ở Huế, ông rất ngán cái cảnh “vào luồn ra cúi” nhưng vì ở gần “mặt trời” nên ông chỉ bộc lộ một cách khá kín đáo: Không bệnh mà lưng cứ phải khom (Thu chí). Ra Quảng Bình, có xa “mặt trời” hơn, nhờ “chính sự giản dị, không cần tiếng tăm”, ông được các bậc sĩ phu và nhân dân Quảng Bình hết sức yêu quý nhưng lại thường bị một số nha lệ coi thường. Nhà thơ không giấu được nỗi bực mình. Trong bài Ngẫu đắc (Ngẫu nhiên được bài thơ), ông viết: Sự lai đồ lệ giai kiêu ngã (Khi có việc bọn nha lệ đều lên mặt kiêu ngạo với ta). Nhưng đó không phải là nguyên nhân chính khiến ông chán ghét cảnh làm quan. Điều khiến nhà thơ chán ghét cảnh làm quan chính là cái bản tính phóng khoáng, thích tự do của ông. Trong bài Tân thu ngẫu hứng (Đầu mùa thu ngẫu hứng) cũng viết tại Quảng Bình, ông than thở: Thử thân dĩ tác phần lung vật / Hà xứ trùng tầm hãn mạn du (Thân này đã là vật trong lồng củi rồi / Còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do nữa). Sau này, khi viết Truyện Kiều, ông đã mượn lời Từ Hải để bày tỏ tâm trạng chán cảnh làm quan của mình: áo xiêm ràng buộc lấy nhau / Vào luồn, ra cúi công hầu mà chi.

Quảng Bình cách quê ông một dãy Hoành Sơn nên nỗi nhớ, nỗi khao khát được trở về quê càng dâng trào, nhất là khi ông có chuyến công cán ra Roòn (thuộc huyện Quảng Trạch, Quảng Bình). Trong bài Nễ Giang khẩu hương vọng (ở cửa sông Roòn nhìn về quê), ông viết: Vọng vọng gia hương tự nhật biên / Hoành Sơn chỉ cách nhất sơn điên / Khả liên quy lộ tài tam nhật / Độc bảo hương tâm dĩ tứ niên (Ngóng trông quê nhà từ bên phía mặt trời / Chỉ cách Hoành Sơn một đỉnh núi / Đáng buồn là đường về chỉ ba ngày tới / Mà lòng nhớ quê đã bốn năm trời). Sống trên đất Quảng Bình, ông cảm thấy hết sức cô đơn: Lệ Thủy, Cầm Sơn giai thị khách (Lệ Thủy hay Cầm Sơn ta vẫn là khách). Thỉnh thoảng, ông đi bách bộ ngắm cảnh dọc bờ sông Nhật Lệ: Tán phát cuồng ca tứ sở chi (Xõa tóc, hát cuồng mặc ý đến đâu thì đến). Tâm trạng chán cảnh làm quan và da diết nhớ quê tràn ngập trong Nam Trung tạp ngâm, chỉ có điều khi làm cai bạ Quảng Bình, Nguyễn Du bộc lộ trực tiếp hơn, cháy bỏng hơn vì những lý do đã trình bày ở trên. Đặc biệt, với cuộc chiến tranh Trịnh -Nguyễn kéo dài hàng trăm năm thì mãi đến khi ra làm cai bạ Quảng Bình, nhà thơ mới có điều kiện tìm hiểu một cách đầy đủ, thấu đáo. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, phía đông thành Lũy Thầy, những pháo đài đã bỏ không (Pháo đài hư thiết thổ thành đông) nhưng nhà thơ vẫn như đang nhìn thấy: Trên đồng nội mênh mông, hoang vắng nơi nơi đầy những hố chôn xương không chủ (Khoán dã biến mai vô chủ cốt -bài “Ngẫu đắc”) và Trăm trận xương tàn dưới bãi cỏ xanh (Bách chiến tàn hài ngọa lục vu -bài “Độ Linh Giang”). Vì thế cho nên, khi cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” này đã qua đi: Giờ đây không còn ai quý trọng cái “công lao” giết người nữa (Nhĩ lai bất quý sát nhân công)…

Bốn năm làm cai bạ ở Quảng Bình là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du. Những tâm sự sâu kín được ông bộc lộ qua tập thơ Nam Trung tạp ngâm; đặc biệt những bài ông viết ở Quảng Bình, như: Độ Linh Giang, Pháo đài, Tân thu ngẫu hứng, Nễ Giang khẩu hương vọng, Ngẫu đắc, Giang đầu tản bộ… là cơ sở để ông tìm đến với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và sáng tạo nên tác phẩm Truyện Kiều bất hủ.

Nhà thơ Mai Văn Hoan