(ĐTCK-online) Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một lực lượng vô cùng quan trọng. Các ngân hàng phải có nhìn nhận tốt hơn về khu vực này, nếu bỏ qua là một sự lãng phí lớn. Đó là đánh giá của TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khi trao đổi với ĐTCK.

Một trong những yếu kém của nền kinh tế là nguồn lực chưa được phân bổ hiệu quả. Ngay cả trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng vẫn có những thiên lệch đáng kể, thưa ông? Đúng vậy. DNNN vẫn là nơi được hưởng lợi nhất từ cung tín dụng của ngân hàng. Trước đây, tín dụng đối với khu vực DNNN chiếm tỷ trọng rất lớn, tới 80% tổng tín dụng. Những năm gần đây, tỷ trọng này giảm còn khoảng 35%, nhưng đó vẫn là một con số đáng kể và đáng bàn. Bên cạnh đó, nguồn vốn ngân hàng cũng đổ nhiều vào trái phiếu chính phủ. Hàng năm, Chính phủ phát hành một lượng trái phiếu rất lớn, rồi trái phiếu công trình, trái phiếu các tỉnh… Các ngân hàng chính là những nhà đầu tư lớn nhất, thường xuyên trên thị trường trái phiếu. Vậy theo ông, tại sao lại có hiện tượng như vậy? Theo tôi, có 3 nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, liên quan đến tư duy phát triển. Mặc dù Việt Nam đã và đang xây dựng một nền kinh tế, trong đó môi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, nhưng trên thực tế trong tư duy vẫn xem kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, DNNN là nòng cốt. Điều đó đã dẫn đến tình trạng dành nhiều ưu tiên, “thiên vị” khu vực DNNN, trong đó có việc ưu ái về tiếp cận tín dụng. Thứ hai là “cách chơi” của ngân hàng. Nếu đứng ở góc độ ngân hàng thì có 2 loại hình “dễ chơi”, vì rủi ro ít và dễ có lợi nhuận, đó là cho vay DNNN, được chỉ định hay bảo lãnh “ngầm” và mua trái phiếu chính phủ. Lẽ đương nhiên, khi tập trung đầu tư vào khu vực này thì nguồn lực dành cho khu vực tư nhân và DNVVN bị thu hẹp. Có thể thấy điều này là trong hệ thống ngân hàng, hiện khu vực tư nhân và DNVVN vay nhiều tại các ngân hàng TMCP. Nguyên nhân thứ ba xuất phát từ chính sự yếu kém của DNVVN. Ngân hàng không muốn dành nguồn lực của mình cho DNVVN một phần cũng do những doanh nghiệp này thường có năng lực tài chính thấp, không có tài sản thế chấp, thiếu minh mạch... nên rủi ro cao. Trong khi đó, Nhà nước thiếu những chính sách nhất định hỗ trợ DNVVN. Bên cạnh hỗ trợ về nâng cao năng lực, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghiệp và gia nhập thị trường được xem là những chính sách tốt, thì còn nhiều chính sách khác cần phải xem xét kỹ lưỡng cả về mô hình và cách thức thực thi để đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của chúng. Ví dụ như quy định ngân hàng có một tỷ lệ nguồn vốn nhất định cho DNVVN vay hay cơ chế bảo lãnh tín dụng. Hiện khả năng tiếp cận được nguồn tín dụng chính thức của khu vực tư nhân, chủ yếu là các DNVVN, chỉ khoảng 30%. Điều này đưa đến những rủi ro gì đối với nền kinh tế, thưa ông? Trái phiếu chính phủ tập trung nhiều hay DNNN được hưởng tín dụng nhiều dễ dẫn đến “rủi ro đạo đức”, tham nhũng, lãng phí. Bởi khi doanh nghiệp được bảo lãnh ngầm, dễ dàng vay được tiền có thể dẫn đến làm liều, làm ẩu mà không dựa trên tính toán cẩn thận và cả chính do năng lực quản trị không theo kịp mở rộng đầu tư, kinh doanh. Thứ hai là rủi ro tín dụng. Việc đầu tư cho vay không hiệu quả sẽ khiến nợ xấu gia tăng. Thứ ba là rủi ro bất ổn vĩ mô do doanh nghiệp bên bờ vực phá sản, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng lớn. Đồng thời, thâm hụt ngân sách, kéo theo nợ công, có nguy cơ gia tăng, gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Theo ông, giải pháp nào cho những vấn đề trên? Phải bắt đầu từ tư duy, xác định lại đúng vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường, trong quá trình hội nhập. Bên cạnh từng dự án riêng biệt trong thị trường, Nhà nước cần có cái nhìn tổng thể quan tâm đến ổn định kinh tế vĩ mô. Phải xem doanh nghiệp tư nhân, DNVVN là một lực lượng cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam, từ đó có những chính sách thích hợp để phát triển khu vực kinh tế này. Ví dụ như chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, xúc tiến thương mại, phổ biến thông tin, nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo, giáo dục… Việc xây dựng tổ chức định mức tín nhiệm và các hình thức bảo lãnh tín dụng phù hợp cũng rất cần xem xét. Bản thân ngân hàng cũng phải có nhìn nhận tốt hơn đối với DNVVN. Đây chính là khu vực năng động, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và nhìn tổng thể cũng có không ít lợi thế kinh tế nhờ quy mô, nếu bỏ qua thì rất lãng phí. Ngay cả trong nền kinh tế phát triển nhất thì DNVVN vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo. Tháo gỡ khó khăn trong khu vực này không nên chỉ nhìn vào câu chuyện tháo gỡ những yếu kém đặc trưng nội tại của DNVVN, mà còn là những cơ chế yếu kém trong sự tương tác giữa hệ thống ngân hàng, hệ thống tài chính với DNVVN trong việc tiếp cận vốn.