Chỉ sau một tuần gia nhập đội ngũ Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, tôi đã có mặt ở đường 20 Quyết Thắng - một tuyến đường huyết mạch, quan trọng nhất trong hệ thống đường Trường Sơn. Qua 3 tháng ở Đại đội 8 trực tiếp cầm cuốc, cầm xẻng bám trụ mặt đường, tôi được rút về tiểu đội tuyên truyền văn hóa xung kích đội 25 để thay thế cho các anh chị TNXP nhiệm kỳ 2 chuẩn bị giải ngũ.

Tiểu đội tuyên truyền văn hóa xung kích, gọi tên thì dài thế, nhưng thức chất hoạt động như một đội văn nghệ chuyên nghiệp, được đội nuôi ăn, tập hát múa để đi biểu diễn phục vụ cho các đại đội trực thuộc đóng quân rải rác suốt chiều dài gần 60km. Binh trạm hay các đơn vị lân cận cần chi viện “đời sống tinh thần”, tiểu đội chúng tôi cũng sẵn sàng lên đường đi biểu diễn ngay.

Tiếng hát trên đường hành quân. Ảnh tư liệu.

Tôi còn nhớ, để có một buổi biểu diễn ngót nghét hai tiếng đồng hồ, đội văn nghệ chúng tôi phải chuẩn bị gần 20 tiết mục: một vở kịch nói, hoạt cảnh chèo, đồng ca, tốp ca, độc tấu, múa... phần lớn đều phải tự biên cả. Chỉ có mấy bài hát mới là lấy được của các nhạc sỹ. Nhất là khi đi tham dự hội diễn văn nghệ ở Binh trạm thì trăm phần trăm tiết mục tham dự đều phải sáng tác lấy, có vậy mới mong nhận được giải thưởng. Đội viên ở các đơn vị thường nhìn đội văn nghệ với con mắt ganh tị, cho là tụi này chỉ hát múa thì hẳn là nhàn nhã lắm. Nhưng nào phải vậy, mỗi đội viên tiểu đội tuyên truyền văn hóa xung kích đều phải gồng mình lên mới hoành thành được nhiệm vụ của mình. Có cậu cứ nằng nặc đòi trở về đơn vị cũ, sống bám mặt đường, gian khổ vất vả đấy nhưng thoải mái hơn. Lãnh đạo phải động viên mãi mới chịu ở lại.

Gia tài của đội văn nghệ chuyên nghiệp chúng tôi gồm một cây đàn ghi ta, một cây măngđôlin, cây bănggiô to, cây líu, cây đàn tam, đàn nguyệt. Sau này có được bổ sung thêm một cây đàn ắccoócđêông, nhưng chẳng ai có biết chơi cả, hơn nữa nó lại quá nặng nề, không phù hợp với biểu diễn lưu động, đi lại toàn đường rừng nên đành xếp xó. Mới có ít nhạc cụ như vậy mà mỗi người đã phải đảm nhiệm hai, ba loại.

Nhớ nhất là những đợt hành quân đi biểu diễn, mà công việc này chiếm một nửa thời gian của đội văn nghệ chúng tôi. Mỗi đứa trên người lỉnh kỉnh nào ba lô, nhạc cụ, đạo cụ... rồi cứ bám theo các lối mòn giao liên tiến bước. Các đơn vị thường đóng cách nhau khoảng chục cây số, xuất phát sáng sớm, nửa buổi đến nơi, ăn uống nghỉ ngơi đầu giờ chiều biểu diễn là vừa. Ở Trường Sơn ngày ấy dù là văn công thực thụ hay văn công nửa mùa như chúng tôi đều biểu diễn dưới ánh sáng mặt trời. Sân khấu thường là một khoảng đất rộng, bằng phẳng nằm dưới tán các cây xăng lẻ, đại thụ. Ranh giới giữa người diễn và người xem được phân cách bằng mấy cành lá sơ sài. Diễn viên hát múa cũng chẳng có phấn son để hóa trang, cần thành ông già đã có than để vẽ râu, vẽ ria. Ây vậy mà, nhiều buổi chúng tôi diễn, chúng tôi hát đến khan cả tiếng vẫn rào rào tiếng vỗ tay đòi được xem nữa. Nhưng vốn liếng chỉ có vậy, đành phải múa đi, hát lại. Mệt nhưng vui, cái vui lại cuốn đi cái mệt, cứ thế hát cho nhau nghe quên đi mặt trời sắp lặn.

Hát trên đường Trường Sơn, ký ức của tôi hiện lên rõ mồn một những lần đi hát đột xuất ngay trên mặt đường, hát bên miệng hố bom còn nóng bỏng, khét lẹt để động viên đồng đội làm việc. Tiếng máy bay vẫn gầm rú trên đầu, bom nổ thậm thình đây đó những tiếng hát vẫn bay lên xao xuyến trời đêm, xao xuyến tình người, vẫy gọi đoàn xe ầm ì vượt dốc...

Khi ngồi viết những dòng chữ này đã gần 30 năm đi qua, nhưng tôi như đang nghe vang vọng trong lòng mình giai điệu của một thời “Tiếng hát át tiếng bom” và từng gương mặt của đồng đội ở cùng tiểu đội tuyên truyền văn hóa xung kích trên đường Trường Sơn cứ hiện về lấp lánh. Những năm tháng hát trên đường Trường Sơn sống, sống mãi để cuộc đời tôi lúc nào cũng vang vọng khúc quân hành...

Phạm Minh Dũng