Trên truyền hình đang tràn ngập các cuộc thi ca hát, đó là một thực trạng đáng báo động về một xu hướng phát triển không mấy tích cực. Tuy nhiên, giữa sắc màu của bao nhiêu mơ ước trở thành ngôi sao và trở thành thần tượng, “Tiếng hát mãi xanh” bỗng thành một sân chơi khác hẳn.

Nhìn về phương diện xã hội, “Tiếng hát mãi xanh” mang tính phong trào, nhưng sức thuyết phục của những thí sinh lại khiến chúng ta phải suy nghĩ thấu đáo hơn cho những chương trình giải trí trên màn ảnh nhỏ.

Thí sinh Nguyễn Thị Ngọc Thanh 75 tuổi

Từ một vài hiện tượng ca hát nghiệp dư, mà nổi bật nhất phải nhắc đến sự tỏa sáng của Susan Boyle – một người phụ nữ bình thường ở xứ sở sương mù nhưng cất giọng làm say đắm cả thế giới, Đài truyền hình TPHCM đã thiết kế nên “Tiếng hát mãi xanh” để tạo cơ hội xuất hiện cho những người không còn trẻ nhưng vẫn đam mê ca hát.

Từ 35 tuổi trở lên đã có thể ứng thí “Tiếng hát mãi xanh”, song bảng thi dành cho những thí sinh trên 66 tuổi luôn gây chú ý đặc biệt. Bởi lẽ, ở độ tuổi “lục thập nhi thuận nhĩ” và “thất thập cổ lai hy”, người làm công chức cũng đã nhận sổ hưu, người buôn bán đã giao lại cho con cháu, người cấy cày cũng đã rời đồng ruộng, và họ rất dễ bị lãng quên giữa cuộc sống nhộn nhịp và bộn bề. Vậy mà những bậc cao niên ấy vẫn bước lên sân khấu và trình diễn trước ống kính một cách say sưa. Khán giả hào hứng theo họ không chỉ vì lời ca điệu nhạc, mà cảm nhận được ở đó những tấm long thiết tha gắn bó với cuộc sống.

Ca sĩ Ái Vân với tư cách khách mời của “Tiếng hát mãi xanh” đã phát biểu cảm tưởng: “Đến tuổi này rồi mà các anh chị, cô chú vẫn hát rất hồn nhiên. Giọng ca của các thí sinh cuộc thi năm nay như là những mỏ quặng vậy, bây giờ mới được khai thác!”.

Câu cửa miệng chúng ta quen nói với nhau rằng “hát hay không bằng hay hát”. Trường hợp “Tiếng hát mãi xanh” nêu bật tiêu chí “hát cho thỏa đam mê, hát cho đời xanh mãi” gồm hai vế, vế thứ nhất cũng tương đối giống các cuộc thi khác, nhưng vế thứ hai mở ra kênh thẩm mỹ mới cho cộng đồng. Ban giám khảo “Tiếng hát mãi xanh” dùng khá nhiều lời tốt đẹp để ca ngợi thí sinh, hoàn toàn dễ chấp nhận, vì những mái tóc bạc trắng trên sàn diễn và những băng rôn có dòng chữ “ông ngoại cố lên” hoặc “bà nội chiến thắng” đang nhắc nhở chúng ta một vẻ đẹp tinh thần của người Việt thời hội nhập: lối sống ân nghĩa giúp thế hệ này tiếp sức và truyền lửa cho thế hệ kia.

Ngoài giá trị ấy, “Tiếng hát mãi xanh” còn chứng minh được, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng chương trình giải trí trên truyền hình cho khán giả, mà không nhất thiết phải “theo đóm ăn tàn” các game show của các nước phương Tây. Bởi lẽ, các game show nổi danh ở Mỹ hoặc ở Anh được phát kiến trên khả năng tương tác của tập quán và văn hóa hoàn toàn dị biệt với người Việt. Vì vậy, không có gì khó hiểu khi game show lừng lẫy quốc tế nhưng phiên bản Việt nào cũng khập khiễng và chông chênh!