Hai vợ chồng đều công tác tại trại giam Hồng Ca, vì hoàn cảnh công tác và điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, Đại úy Hoàng Quý Dương phải gửi cậu con trai duy nhất ra học ngoài thị xã. Anh kể, ban ngày đi làm việc thì không sao, nhưng hễ cứ về nhà, cả hai vợ chồng anh đều nhớ, đều buồn khi phải xa cậu con trai nhỏ tuổi; thấy trống vắng khi ngôi nhà thiếu tiếng cười trẻ thơ.

Là một cán bộ công tác trong ngành trại giam, những người quản giáo như Hoàng Quý Dương đôi khi phải hi sinh rất nhiều cuộc sống riêng tư của mình. Nhưng không vì thế mà sự nhiệt tình với công việc của Đại úy Hoàng Quý Dương giảm đi.

Lần đến công tác tại trại Hồng Ca, tôi có gặp gỡ phạm nhân Nguyễn Việt Hà ở đội phạm nhân số 4 – Trại giam Hồng Ca. Phạm nhân Nguyễn Việt Hà đã nhắc về Đại úy Hoàng Quý Dương – quản giáo quản lý trực tiếp của đội phạm nhân số 4 với đầy sự biết ơn. Trong những ngày phạm nhân này suy sụp, khó khăn nhất, phạm nhân Nguyễn Việt Hà đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của quản giáo Dương. Vì thế mà ngay cả trong lúc tuyệt vọng, có ý định trốn trại, Hà cũng lừng khừng vì lo hành động của mình sẽ ảnh hưởng đến quản giáo Dương. Chính tấm lòng của Đại úy Dương đã cảm hóa được Hà – một người tù đã từng có 1 tiền án 20 năm và hiện đang mang trong mình virus HIV.

Trong buổi nói chuyện với tôi, nhắc đến trường hợp Nguyễn Việt Hà, Đại úy Hoàng Quý Dương nói anh coi câu chuyện với phạm nhân này là một kỉ niệm đẹp trong quãng đời làm lính trại giam của mình.

Đại úy Hoàng Quý Dương vào ngành trại giam từ năm 1993, nhưng chỉ thực sự trực tiếp làm công tác quản giáo vài năm trở lại đây. Anh kể: “Năm 2007, tôi từng gặp một tai nạn nghề nghiệp. Khi đó tôi quản lý một đội phạm nhân làm gạch. Vì làm việc ngoài trời nên những phạm nhân được chọn vào đội này chủ yếu đều là những phạm nhân thuần tính, chưa có tiền án tiền sự và án ngắn. Hôm đó có một phạm nhân mới chuyển đến đội. Do bận bịu công việc, tôi chưa kịp trò chuyện với phạm nhân đó ngay. Phạm nhân này rất lầm lì, ít nói. 3 ngày sau, anh ta đột nhiên leo rào chạy ra ngoài trốn. Anh ta bị bắt lại ngay trong buổi chiều hôm đó và nói muốn trốn về vì quá nhớ nhà. Tuy không để lại hậu quả nghiêm trọng, nhưng sau này tôi đã tự kiểm điểm lại bản thân và biết mình đã thiếu sót khi không trò chuyện với phạm nhân mới đến, để kịp thời nắm bắt tâm lý và động viên họ. Sau này, việc trò chuyện, gần gũi với phạm nhân luôn là việc được tôi ưu tiên hàng đầu, dù công việc có bận đến mấy”.

Một trong những quan điểm nghề nghiệp của Đại úy Dương là: không “ngại” bất cứ phạm nhân nào. Càng những phạm nhân ngang bướng, thường xuyên vi phạm, có hành vi chống đối, anh càng cố gắng tìm cách gần gũi để chia sẻ, phân tích cho họ những cái đúng cái sai, để họ xác địch đúng hướng cải tạo, sớm trở về với gia đình. Trường hợp phạm nhân Nguyễn Việt Hà chính là một ví dụ.

Phạm nhân Nguyễn Việt Hà từng có tiền án 20 năm. Trước đây, Hà bị giam giữ ở trại Tân Lập, Phú Thọ. Ở tù 17 năm mới ra tù, Hà kết hôn với một cô gái do gia đình mai mối. Hai vợ chồng được cha mẹ giúp đỡ, tạo điều kiện làm ăn. Hành trình bắt đầu lại cuộc đời của Hà đang diễn ra suôn sẻ, thì Hà lại vướng vào sai lầm. Hà đi buôn bán trên cửa khẩu Lào Cai, bị bạn bè rủ rê rồi vướng vào nghiện ma túy. Vốn liếng làm ăn do cha mẹ giúp dần tiêu tan, Hà đi buôn ma túy rồi bị bắt, án tù 10 năm.

Khi vào trại giam, sức khỏe phạm nhân này rất suy sụp. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy Hà dương tính với HIV. Vợ Hà ở nhà đi xét nghiệm cũng biết tin sét đánh đã bị lây HIV từ chồng.

Bệnh tật cộng với tinh thần không tốt, nên thời gian đầu mới vào trại giam, tâm lý phạm nhân Hà rất bất ổn. Hà mệt mỏi, suy sụp và không tuân thủ kỉ luật. Thỉnh thoảng Hà giả vờ ốm để không phải lao động và được đi nằm viện. Biết hoàn cảnh của Hà, Đại úy Hoàng Quý Dương thường gần gũi, hỏi han về vợ con, động viên Hà không nên bi quan về bệnh tật và tích cực cải tạo để trở về với gia đình. Sự gần gũi của Đại úy Dương đã cảm hóa được Hà. Nên có lần Hà tâm sự với một phạm nhân trong đội: “Đã có lúc tôi có ý định giả vờ ốm để được đưa lên viện, sau đó sẽ tìm cách trốn trại. Nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến quản giáo Dương, tôi lại không dám làm thế”. Với những người làm công tác quản giáo như Đại úy Dương, được chính phạm nhân nói ra câu này, chính là một niềm vui lớn, một thành công lớn của nghề quản giáo.

Đại úy Hoàng Quý Dương là người trực tiếp quản lý đội phạm nhân số 4. Đây là đội trọng điểm, tập trung những phạm nhân án dài, án trọng điểm hoặc những phạm nhân nhiều tiền án tiền sự. Đặc thù của trại giam Hồng Ca là nằm ở vùng núi, không chỉ còn nhiều khó khăn về kinh tế mà còn khó khăn trong cả thành phần phạm nhân bị giam giữ. Phần lớn phạm nhân ở đây đều là người vùng núi, người dân tộc, trình độ nhận thức còn kém, nên việc quản lý, thậm chí là việc giao tiếp cũng còn nhiều khó khăn hơn.

Đại úy Hoàng Quý Dương kể, trong đội phạm nhân anh đang quản lý, có những phạm nhân phạm tội vì những lý do mà nếu nghe chắc chẳng ai dám tin. Phạm nhân Tẩn Chỉn Quan là một ví dụ. Phạm nhân Tẩn Chỉn Quan quê ở Bát Xát, Lào Cai, là người dân tộc Dao. Tẩn Chỉn Quan học hết lớp 5, từng có 3 năm làm trưởng thôn và là Ủy niên của Hội đồng nhân dân xã. Thế mà đùng một ngày, Tẩn Chỉn Quan phạm tội giết người. Tẩn Chỉn Quan giết chính đứa con gái nhỏ của mình, vì một lý do nói ra mà đau lòng.

Tẩn Chỉn Quan tuy còn trẻ nhưng đã có 4 đời vợ. Khi sống với người vợ thứ 4, Tẩn Chỉn Quan sinh được 2 người con. Trong cuộc sống, có những lúc hai vợ chồng không hòa thuận khiến vợ chồng Quan xảy ra cãi cọ, điều đó khiến lòng Tẩn Chỉn Quan buồn vô cùng. Một hôm, Tẩn Chỉn Quan đi gặp thầy cúng. Thầy cúng phán: “Vợ mày sắp bỏ mày đi. Nếu mày không giết con gái mày, mày sẽ mất vợ”. Thế là Tẩn Chỉn Quan về làm theo lời thầy cúng dặn.

Tẩn Chỉn Quan về nhà, thấy vợ, mẹ và con gái đang ngồi trong bếp. Không nói không rằng, Tẩn Chỉn Quan nhấc bổng đứa con gái chưa đầy 2 tuổi lên rồi ném con xuống đất cho đến chết trước mặt vợ. Tẩn Chỉn Quan bị bắt và đã bị kết tội, đưa về giam tại trại Hồng Ca. Tuy tội ác của Quan đã bị xử lý theo pháp luật, nhưng nghe câu chuyện của Tẩn Chỉn Quan, quản giáo Dương cũng như nhiều cán bộ ở trại Hồng Ca đều cảm thấy đau lòng, xót xa cho lý do phạm tội của phạm nhân này.

Chính vì quản lý những phạm nhân với đặc thù phần lớn là người dân tộc, nên cách tiếp cận để giáo dục phạm nhân của Đại úy Hoàng Quý Dương cũng như của những quản giáo khác ở trại Hồng Ca có nhiều khác biệt so với những trại giam ở những vùng khác. Như trường hợp phạm nhân Tẩn Chỉn Quan, Đại úy Hoàng Quý Dương dành cho rất nhiều sự quan tâm.

Thời gian mới vào trại, Tẩn Chỉn Quan liên tục đổ tội cho “con ma” đã xui mình giết con gái. Nói thế nhưng Quan cũng lầm lì, ít nói, tâm lý khủng hoảng vì ám ảnh bởi cái chết của con. Đại úy Dương thường ngồi nói chuyện với Tẩn Chỉn Quan, nghe Quan tâm sự chuyện gia đình, rồi phân tích cho Quan thấy chẳng có “con ma” nào trên đời này cả; rồi động viên Quan tích cực cải tạo. Nhờ có sự quan tâm của quản giáo Dương, Tẩn Chỉn Quan giờ đã gần gũi, hòa nhập với các phạm nhân khác. Quan tích cực lao động, cải tạo để sớm được trở về với xã hội và đặc biệt là không còn nhắc đến “con ma” nữa.

Cả hai vợ chồng Đại úy Hoàng Quý Dương đều công tác ở trại giam Hồng Ca. Đại úy Hoàng Quý Dương tâm sự, làm cùng nghề nên vợ chồng anh dễ thông cảm cho nhau hơn. Nhưng cũng vì thế mà chuyện thu xếp gia đình gặp nhiều khó khăn. Vợ chồng anh có 1 con trai còn nhỏ tuổi, nhưng phải gửi lên nhà ông bà ở thành phố Yên Bái cách đó mấy chục cây để tiện điều kiện học tập: “Vì điều kiện công tác không cho phép, cũng phần vì điều kiện học tập ở đây còn nhiều khó khăn, nên vợ chồng tôi đành phải quyết định như thế. Mỗi ngày đi làm về, đi ra đi vào chỉ có hai vợ chồng, nhớ con vô cùng. Nhớ nhất là khi đêm đến. Muốn cả gia đình ở gần nhau nhưng chẳng biết làm sao. Vì thế vợ chồng tôi chỉ còn biết thay nhau đi thăm con vào những dịp cuối tuần. Thương con lắm vì còn nhỏ tuổi mà phải xa bố mẹ, lần nào bố mẹ lên thăm về, cu cậu cũng khóc.

Có lần lên thành phố thăm con, con trai tôi nói: “Bố ơi bố đừng làm việc nữa, để về đây ở với con”. Tôi đùa lại: “Bố phải làm việc để kiếm tiền đong gạo cho con ăn và có tiền đưa con đi chơi”. Con trai tôi liền nói lại: “Con sẽ ăn ít, sẽ đi chơi ít, để bố không phải làm việc, có thời gian ở cạnh con nhiều hơn”. Tôi nhớ mãi câu nói đó của con, lần nào nghĩ đến cũng thấy xúc động và thương con vô cùng”. Tuy vậy, vì công việc, vì nhiệm vụ, vợ chồng tôi đều xác định phải cùng nhau vượt qua những khó khăn này để hoàn thành tốt công tác, phấn đấu vừa lo cho gia đình êm ấm, vừa là những cán bộ tốt của ngành trại giam”